- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Áp dụng vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24-02-2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Thái.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Quy và ông Biện Hữu Tấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Trang - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán không tham gia phiên tòa.
Ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 391/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Bùi Xuân H, sinh năm: 1993.
Địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn: Chị Trần Thị Hoài T, sinh năm: 1989.
Địa chỉ: Tổ 4, ấp Y, xã S, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
(Nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện; bản tự khai nguyên đơn là anh Bùi Xuân H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thị Hoài Th tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Suối Nho, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 10 vào ngày 21/10/2014. Sau khi kết hôn thì anh và chị Th về sống tại nhà bố mẹ anh ở xã X, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai được 01 năm thì chị Th tự ý bỏ về nhà mẹ ruột chị Th ở xã Suối Nho sống 01 năm. Từ đó vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do cãi nhau, không nói chuyện với nhau. Đến năm 2016 thì anh chị ly thân cho đến nay. Nay anh nhận thấy không còn tình cảm với chị Th nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thị Hoài Th.
- Về con chung: anh và chị Th có 01 con chung là Bùi Ngọc Bảo Ch, sinh ngày 12/3/2015. Khi ly hôn anh H tự nguyện giao con chung cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 2.000.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị Th không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, bị đơn chị Trần Thị Hoài Th trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị đồng ý ly hôn với anh Bùi Xuân H theo lời anh H trình bày và không trình bày lý do gì thêm.
- Về con chung: Chị và anh H có 01 con chung là Bùi Ngọc Bảo Ch, sinh ngày 12/3/2015. Khi ly hôn chị đồng ý với mức cấp dưỡng của anh H đưa ra là 2.000.000đ/ tháng cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh H không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn chị Trần Thị Hoài Th hiện cư trú tại ấp X, xã S, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Định Quán theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: Anh Bùi Xuân H yêu cầu khởi kiện ly hôn, nuôi con với chị Trần Thị Hoài Th nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về xác định tư cách đương sự: Anh Bùi Xuân H là nguyên đơn; chị Trần Thị Hoài Th là bị đơn theo Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Bùi Xuân H và bị đơn chị Trần Thị Hoài Th có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Anh H và Chị Th tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã S, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 21/10/2014 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Bùi Xuân H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Anh H và chị Th đều thừa nhận cuộc sống vợ chồng giữa anh H và chị Th đã xảy ra những bất đồng, mâu Thẫn và hai người đã tự chấm dứt đời sống chung của vợ chồng. Tại Điều của 19 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình…có nghĩa vụ sống chung với nhau”. Tuy nhiên, kể từ khi anh H, chị Th không còn sống chung với nhau thì hai người cũng không quan tâm, chăm sóc, không thực hiện quyền nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Qua xem xét lời trình bày của anh H, chị Th có đủ căn cứ xác định vợ chồng anh H chị Th thật sự đã có mâu thuẫn, vợ chồng đã không còn quan tâm chăm sóc nhau, vi phạm quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, dẫn đến hôn nhân lâm vào tình trạng mâu Thẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy, cuộc sống vợ chồng giữa anh H, chị Th đã có mâu thuẫn, khả năng đoàn tụ không có nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H, giải quyết cho anh H được ly hôn với chị Th theo Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Anh H và chị Th có 01 con chung là Bùi Ngọc Bảo Ch, sinh ngày 12/3/2015. Anh H tự nguyện giao con chung cho chị Th được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Th cũng yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Cháu Ch cũng có nguyện vọng được ở chị Th. Con chung trong thời gian được chị Th nuôi dưỡng cũng được chăm sóc tốt, phát triển bình thường. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử xét cần giao con chung là Bùi Ngọc Bảo Ch, sinh ngày 12/3/2015 cho chị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 2.000.000đ cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Chị Th cũng đồng ý với mức cấp dưỡng nêu trên nên ghi nhận sự tự nguyện của anh H.
Anh H có quyền đi lại thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chưa thành niên, các bên được quyền thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Anh H chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức Th, miễn, giảm, Th, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Xuân H được ly hôn với chị Trần Thị Hoài Th.
- Về con chung: Giao con chung là Bùi Ngọc Bảo Ch, sinh ngày 12/3/2015 cho chị Trần Thị Hoài Th trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Anh Bùi Xuân H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung mỗi tháng là 2.000.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung được pháp luật bảo vệ.
- Về tài sản chung: Không có, không giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không giải quyết.
- Về án phí: Anh Bùi Xuân H nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh H nộp (biên lai Th số 00 ngày 07/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán) được khấu trừ thành tiền án phí. Anh H phải nộp thêm 300.000đ ( ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND H.Định Quán; - Thi hành án dân sự H.Định Quán; - UBND cấp xã (ghi vào sổ hộ tịch); - Những người tham gia tố tụng; - Lưu án văn; - Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Thái |