vanban.org

Bản án 12/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Cẩm A đối với anh Đỗ Hoài B.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Cẩm A được ly hôn với anh Đỗ Hoài B; 2. Về con chung: Giao cháu Đỗ Huỳnh Khánh C, sinh ngày 25/6/2015 cho chị Huỳnh Thị Cẩm A tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh B có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Cẩm A đối với anh Đỗ Hoài B.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10/01/2023
V/v tranh chấp: “Xin ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Lil;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Châu Văn Bình;

2. Bà Lê Thị Ngọc Ánh;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thơ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Thanh – Kiểm sát viên;

Trong ngày 10 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 438/2022/TLST-HNGĐ ngày 17/10/2022 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 211/2022/QĐXXST-HN ngày 06/12/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 208/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27/12/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Huỳnh Thị Cẩm A, sinh năm 1987 (xin vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang.

Nơi cư trú hiện nay: Ấp M1, xã N1, huyện Y, tỉnh Phú Yên.

2. Bị đơn: Đỗ Hoài B, sinh năm 1975 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Huỳnh Thị Cẩm A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh đỗ Hoài B qua tìm hiểu, có tổ chức đám cưới và sống chung như vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N vào ngày 15 tháng 6 năm 2015. Thời gian đầu sống rất hạnh phúc, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, cãi nhau dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng gay gắt nguyên nhân do anh B có quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài, vợ chồng nhiều lần giải quyết mâu thuẫn nhưng không được nên đã sống ly thân với nhau từ năm 2021 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh B.

Về con chung: Có 01 con chung tên Đỗ Huỳnh Khánh C, sinh ngày 25/6/2015. Hiện đang sống với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu C, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có;

Về nợ chung: Không có;

Bị đơn anh Đỗ Hoài B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo qui định pháp luật, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng và không có gửi văn bản ghi ý kiến phản đối về yêu cầu khởi kiện của chị A đối với anh B.

Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Việc tuân thủ pháp luật về thẩm quyền giải quyết, về quan hệ tranh chấp, về thu thập chứng cứ đúng theo qui định pháp luật tố tụng; Về thời hạn chuẩn bị xét xử, gửi hồ sơ; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa đúng quy định.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của họ theo quy định pháp luật. Bị đơn vắng mặt không lý do, không thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Viện kiểm sát đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị A, lý do chị A xin ly hôn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, đã ly thân từ năm 2021 đến nay, không còn tình cảm do anh B có quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài. Anh B đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để trình bày ý kiến, chứng tỏ anh B không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng nên đề nghị Tòa cho chị A ly hôn; Về con chung: giao cháu C cho chị A nuôi do cháu đang sống chung với chị A cần có sự ổn định và phù hợp với nguyện vọng của cháu muốn sống với chị A. Chị A không có yêu cầu anh B phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử xét thấy.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Huỳnh Thị Cẩm A và anh Đỗ Hoài B qua tìm hiểu, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã N vào ngày 15 tháng 6 năm 2015 là hôn nhân hợp pháp. Nay tranh chấp được xem xét giải quyết theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Cẩm A có đơn xin xét xử vắng mặt với lý do bận việc. Bị đơn anh Đỗ Hoài B đã được triệu tập hợp lệ xét xử, nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị A và anh B.

Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Cẩm A; Hội đồng xét xử nhận thấy nguyên nhân chị A xin ly hôn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn gay gắt về tình cảm do anh B có người phụ nữ bên ngoài dẫn đến vợ chồng không còn hạnh phúc, mâu thuẫn trong thời gian dài và đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Mục đích hôn nhân hiện tại của anh chị không đạt được, chị A kiên quyết xin ly hôn để ổn định cuộc sống là có căn cứ. Phía anh B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh B vẫn vắng mặt và không đến Tòa án và cũng không có gửi văn bản ghi ý kiến hay phản đối gì về yêu cầu khởi kiện của chị A, điều đó cho thấy anh B không có thiện chí để hàn gắn tình cảm với chị A nên cần xem xét cho chị A ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Đỗ Huỳnh Khánh C, sinh ngày 25/6/2015. Hiện cháu đang sống với chị A, Hội đồng xét xử nhận thấy cháu C đang sống chung với chị A, chị A yêu cầu tiếp tục được nuôi cháu C, anh B không có ý kiến phản đối nên cần giữ ổn định cho cháu về nơi ở, về mặt tâm lý và theo nguyện vọng của cháu do đó giao cho chị A tiếp tục nuôi cháu C. Chị A không có yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét. Chị A nuôi con chung, anh B có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Cẩm A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Chị A và anh B có quyền kháng cáo bản bán theo qui định pháp luật.

Xét ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát về giải quyết vụ án có căn cứ phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự ;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Cẩm A đối với anh Đỗ Hoài B.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Cẩm A được ly hôn với anh Đỗ Hoài B;

1.2. Về con chung: Giao cháu Đỗ Huỳnh Khánh C, sinh ngày 25/6/2015 cho chị Huỳnh Thị Cẩm A tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh B có quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền cản trở việc thăm nom.

1.3. Về tài sản chung: Không có;

1.4. Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Cẩm A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị A đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0025134 ngày 12/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Chợ Gạo nên xem như nộp xong án phí.

3. Quyền kháng cáo: Chị A và anh B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án họp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ