- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân Linh - Cao"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Phan Thị Mỹ L ly hôn với anh Tô Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST Ngày: 13 - 01 - 2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Tuấn.
2. Ông Huỳnh Tấn Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 508/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 474/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 358/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Mỹ L, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: Tổ 03, ấp MA, xã VC, thành phố CĐ, tỉnh AG (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Tô Văn C, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: Tổ 21, ấp BH, xã BL, huyện CP, tỉnh AG (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 12/9/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phan Thị Mỹ L trình bày:
- Về hôn nhân: Chị L và anh C được gia đình hai bên mai mối, tự tìm hiểu và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã BL vào ngày 18/12/2007. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng đến năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C không lo cho kinh tế gia đình, không quan tâm vợ con, thường xuyên ăn nhậu rồi về nhà gây chuyện đánh Chị L. Vì vậy trong năm 2018 vợ chồng sống ly thân khoảng 06 tháng thì được gia đình hai bên động viên hàn gắn nên vợ chồng tiếp tục chung sống. Đến tháng 6/2022, vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, do anh C ăn nhậu rồi về gây chuyện đánh Chị L, từ đó vợ chồng đã ly thân cho đến nay không còn liên lạc. Nay nhận thấy tình cảm không còn, vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh C.
- Về con chung: Chị L và anh C có 02 con chung tên Tô Thị Thảo Tr, sinh ngày 04/8/2008 và Tô Thị Thảo Tr1, sinh ngày 22/3/2020, cả hai con đang sống chung với Chị L. Chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng cho các con chung.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các văn bản tố tụng khác nhưng bị đơn anh Tô Văn C vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến về vụ án.
Tại phiên tòa,
Chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đó giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh C; yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung tên Tô Thị Thảo Tr và Tô Thị Thảo Tr1, không yêu cầu anh C cấp dưỡng cho các con chung; không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án:
- Về hôn nhân: Đề nghị chấp nhận cho Chị L ly hôn với anh C.
- Về con chung: Đề nghị giao cả hai con chung tên Tô Thị Thảo Tr, sinh ngày 04/8/2008 và Tô Thị Thảo Tr1, sinh ngày 22/3/2020 cho Chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng cho các con chung nên không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tranh chấp giữa các đương sự về việc ly hôn, bị đơn cư trú tại huyện CP, tỉnh AG nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân:
Chị L và anh C tự nguyện tiến tới hôn nhân và bắt đầu chung sống từ năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã BL, huyện CP, tỉnh AG ngày 18/12/2007, nên hôn nhân được pháp luật công nhận kể từ thời điểm đăng ký kết hôn; làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống, Chị L và anh C có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không hòa hợp nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6/2022 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để ghi nhận ý kiến, tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ nhưng anh C vắng mặt nên việc hòa giải đoàn tụ không thành; cho đến nay vợ chồng vẫn sống ly thân và không thể tự hàn gắn tình cảm.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ sống chung với nhau. Tuy nhiên, giữa Chị L và anh C đã không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho Chị L ly hôn với anh C theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị L và anh C có 02 con chung tên Tô Thị Thảo Tr, sinh ngày 04/8/2008 và Tô Thị Thảo Tr1, sinh ngày 22/3/2020, cả hai con đang chung sống với Chị L. Xét thấy, từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay, cả hai con chung đều do Chị L trực tiếp nuôi dưỡng; cháu Thảo Tr có nguyện vọng tiếp tục chung sống với Chị L; cháu Thảo Tr1 hiện nay còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi. Do đó, để tạo điều kiện cho các con ổn định về tâm lý, chỗ ở, học tập và đảm bảo sự phát triển bình thường của con, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cả hai con chung tên Tô Thị Thảo Tr và Tô Thị Thảo Tr1 cho Chị L trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng cho các con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét; trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ án khác.
Về án phí sơ thẩm: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Chị L đã nộp. Anh C không phải chịu án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Phan Thị Mỹ L ly hôn với anh Tô Văn C.
2. Về con chung:
- Chị Phan Thị Mỹ L được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung tên Tô Thị Thảo Tr, sinh ngày 04/8/2008 và Tô Thị Thảo Tr1, sinh ngày 22/3/2020.
- Chị Phan Thị Mỹ L không yêu cầu anh Tô Văn C cấp dưỡng cho các con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con mà không ai được cản trở. Chị L cùng các thành viên gia đình của Chị L, không được cản trở anh C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con. Trường hợp anh C lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con thì Chị L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh C.
- Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí sơ thẩm: Chị Phan Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí Chị L đã nộp theo biên lai thu số 0004936 ngày 31 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CP, tỉnh AG.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Phan Thị Mỹ L và anh Tô Văn C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Châu Phú; - CCTHADS huyện Châu Phú; - UBND xã BL (khi có hiệu lực); - Lưu hồ sơ vụ án, VT. | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Chủ tọa phiên tòa THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thẩm phán Nguyễn Duy Linh |