- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa bà Nguyễn Thị D và ông Đồng Xuân B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D đối với bị đơn ông Đồng Xuân B về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24-3-2023 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Độ.
Ông Nguyễn Văn Hoà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 308/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2022 về việc Ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1981; hộ khẩu thường trú: thôn Lão P, xã T, huyện K, Thành phố Hải Phòng; tạm trú: khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Bị đơn: Ông Đồng Xuân B, sinh năm 1975; hộ khẩu thường trú: thôn Lão P, xã T, huyện K, Thành phố Hải Phòng; tạm trú: khu phố B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 09-11-2022, bản tự khai đề ngày 30-11-2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị D, trình bày:
Bà Nguyễn Thị D chung sống với ông Đồng Xuân B từ năm 2007, hôn nhân có tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 28, ngày 08-08-2007. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc thường phát sinh mâu thuẫn do không hòa hợp, bất đồng quan điểm với nhau trong vấn đề tình cảm, vợ chồng thường xuyên cải vả, mâu thuẫn càng ngày càng trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà D yêu cầu được ly hôn với ông Đồng Xuân B. Về con chung: bà Nguyễn Thị D yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đồng Thị Ngọc A, sinh ngày 30-8-2011, không yêu cầu ông Đồng Xuân B cấp dưỡng cho con. Cháu Đồng Xuân Trung N, sinh ngày 14-9-2004 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: không tranh chấp về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 30 tháng 11 năm 2022, bị đơn là ông Đồng Xuân B trình bày:
Ông Đồng Xuân B thống nhất với lời trình bày của bà D về quan hệ hôn nhân, con chung, mâu thuẫn vợ chồng. Nay, trước yêu cầu xin ly hôn của bà D thì ông B đồng ý ly hôn. Về con chung: ông Đồng Xuân B đồng ý giao con chung là Đồng Thị Ngọc A, sinh ngày 30-8-2011, không yêu cầu ông Đồng Xuân B cấp dưỡng cho con. Cháu Đồng Xuân Trung N, sinh ngày 14-9-2004 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: không tranh chấp về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Đồng Xuân B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải.
Tại phiên tòa: nguyên đơn vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các Điều 95 đến Điều 98 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật Tố tụng dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 63, 239, 243, 249, 258, 260 Bộ luật Tố tụng dân sự, Thư ký đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 51, 237 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: trong quá trình chung sống đã có phát sinh mâu thuẫn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương nhận định:
Về tố tụng: yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn là ông Đồng Xuân B có nơi cư trú tại thị trấn L, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt là chưa thực hiện đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị D chung sống với ông Đồng Xuân B từ năm 2006, hôn nhân có tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện K, Thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 28, ngày 08-08-2007. Sau thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vấn đề tình cảm, kinh tế, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc (theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 02-12-2022 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng). Ông B đồng ý ly hôn với bà D (tại bản tự khai đề ngày 30-11-2022). Do đó, có cơ sở xác định: bà D và ông B không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; không còn cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Bà D yêu cầu ly hôn với ông B là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: bà D và ông B có hai con chung là Đồng Xuân Trung N sinh ngày 14-9-2004 và cháu Đồng Thị Ngọc A, sinh ngày 30-8-2011. Con chung Đồng Xuân Trung N, sinh ngày 14-9-2004 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn, bà D yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đồng Thị Ngọc A, sinh ngày 30-8-2011, không yêu cầu cấp dưỡng cho con. Xét bà D có thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, cháu Ngọc A cũng có nguyện vọng được bà D chăm sóc, nuôi dưỡng và ông B cũng đồng ý giao cho bà D chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ngọc A (tại bản tự khai đề ngày 30-11-2022). Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ giao cháu Đồng Thị Ngọc A, sinh ngày 30/8/2011 cho bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình. Bà D không yêu cầu ông B phải cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về chia tài sản chung, nợ chung: các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: nguyên đơn bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự,
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D đối với bị đơn ông Đồng Xuân B về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Về hôn nhân: cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị D và ông Đồng Xuân B.
- Về con chung: Giao cháu Đồng Thị Ngọc A, sinh ngày 30-8-2011 cho bà Nguyễn Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị D không yêu cầu ông Đồng Xuân B cấp dưỡng cho con. Đối với con chung Đồng Xuân Trung N sinh ngày 14-9-2004 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về chia tài sản chung, nợ chung: các đương sự không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung nên Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí: bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị D đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0009486 ngày 15-11-2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Bàu Bàng; - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bàu Bàng; - Các đương sự; - Cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có); - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Dũng |