- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Phùng Văn T tù chung thân.
- Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2022/HS-ST Ngày: 24 - 3 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- T phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Bà Bạch Thị Hồng Hoa
Thẩm phán:
Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phan Thị Bích
Ông Đinh Cộng Hòa
Ông Quách Minh Nhiên
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Phương Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 12/2022/TLST-HS, ngày 26 tháng 01 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 09/QĐXXST-HS ngày 18/02/2022, đối với bị cáo:
Phùng Văn T; Sinh năm 1964 tại Hòa Bình;
Nơi cư trú: tổ 15, phường Đồng T, T phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/10; Có bố là Phùng Như H (Đã chết), mẹ là Nguyễn Thị H (Đã chết); Vợ là Nguyễn Thị H (Đã ly hôn); Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1998.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án: Ngày 20/01/2006, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phạt 20 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Đã chấp hành xong bản án tháng 8 năm 2019).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/10/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hòa Bình. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đan Tiếp P - Văn phòng Luật sư Đan Tiếp Phúc thuộc đoàn Luật sư tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1984; Địa chỉ: số nhà 31, tổ 15 phường Đồng T, T phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phùng Văn T trú tại tổ 15, phường Đồng T, T phố Hòa Bình là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 26/10/2021, Phùng Văn T mượn xe mô tô biển kiểm soát: 28M1-022.88 của cháu trai là Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1984 trú tại tổ 15, phường Đồng T, T phố Hòa Bình đi từ nhà lên ngã ba Tòng Đ thuộc huyện Mai C, tỉnh Hòa Bình với mục đích để xem mảnh đất của gia đình. Sau khi xem đất xong, T điều khiển xe máy từ huyện Mai C về nhà. Đến khoảng 21giờ cùng ngày, khi T điều khiển xe máy đi đến khu vực Cầu Trọng thuộc xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, qua ánh đèn xe máy T nhìn thấy dưới lòng đường phía bên tay phải có một bọc nilon màu hồng. T dừng xe lại và nhặt bọc nilon lên thì thấy bên trong có vật cứng, T không mở ra xem nhưng nghi ngờ đó là ma túy nên đã giấu luôn bọc nilon đó vào trong cạp quần T đang mặc với mục đích mang về nhà mở ra kiểm tra nếu là ma túy thì sẽ để sử dụng cho bản thân. Sau đó, T tiếp tục điều khiển xe máy đi về T phố Hòa Bình, khi đi được một đoạn thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ ở trong cạp quần T đang mặc được 01 túi nilon màu hồng. Kiểm tra bên trong có 01 gói dạng hình chữ nhật nghi là heroine và 02 gói bên trong chứa các viên nén hình trụ nghi là ma túy tổng hợp.
Tại Bản kết luận giám định số 320/KLGĐ-CAT - PC09, ngày 03/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình kết luận:
- Chất bột dạng cục màu trắng trong gói dạng bánh hình hộp chữ nhật trong hộp niêm phong 01 một mặt có ghi: Vật chứng thu giữ trên người Phùng Văn T khi bị bắt quả tang gửi giám định có khối lượng 324,45g (Ba trăm hai mươi bốn phẩy bốn mươi năm gam) là ma túy, loại heroine.
- Các viên nén hình trụ trong 02 gói ký hiệu G1, G2 trong hộp niêm phong 01, một mặt có ghi: Vật chứng thu giữ trên người Phùng Văn T khi bị bắt quả tang gửi giám định có tổng khối lượng 35,09g (Ba mươi năm phẩy không chín gam) là ma túy, loại methamphetamine.
Ngoài ra, khi tiến hành khám xét nơi ở của Phùng Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra còn thu giữ được 237,72gam Heroine (Theo Bản kết luận giám định số 320/KLGĐ-CAT - PC09, ngày 03/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình).
Phùng Văn T khai nhận: Do bản thân nghiện chất ma túy nên vào khoảng năm 2005 T đi lên khu vực rừng già thuộc huyện Vân H, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp một người đàn ông dân tộc Mông ( do thời gian đã lâu nên T không nhớ tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của người này) và hỏi mua được của người này số Heroine trên với giá 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng), sau đó T mang về nhà lấy một ít ra để sử dụng. Số Heroine còn lại T cho vào túi màu đỏ và cất giấu vào ngăn tủ trong phòng ngủ của T để sử dụng dần.
Vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra gồm:
- Toàn bộ số ma túy thu giữ khi bắt quả tang và khám xét nơi ở của Phùng Văn T;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ tím đen; bên trong có 01 sim của mạng di độngViettel đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu KINGREAT; bên trong có 01 sim của mạng di động Vinaphone đã qua sử dụng.
- 01 (một) căn cước công dân số 017064000604 mang tên Phùng Văn T.
- 01 (một) giấy phép lái xe số 170213001100 mang tên Phùng Văn T.
- 01 (một) xe mô tô BKS: 28M1-022.88 nhãn hiệu Honda, số loại WAVERSX, màu S đỏ đen trắng, đã qua sử dụng.
- 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 004535, tên chủ xe Hà Văn Thao, Biển số: 28M1-022.88.
- 4.100.000 (Bốn triệu một trăm nghìn đồng chẵn).
Cáo trạng số: 11/CT-VKS-P1, ngày 24/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Phùng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 4 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 39 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Phùng Văn T tù chung thân về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; xử lý vật chứng, tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Luật sư Đan Tiếp Phúc là người bào chữa cho bị cáo Phùng Văn T trình bày: Cáo trạng truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng pháp luật, bị cáo Phùng Văn T sau khi bị bắt đã T khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đã nhiều tuổi, già yếu bệnh tật; Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát để bị cáo có cơ hội cải tạo, trở về với gia đình và xã hội. Bị cáo Phùng Văn T đồng ý với quan điểm bào chữa của luật sư bào chữa và không bổ sung nội dung gì.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án,
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa luật sư, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
Về hành vi và tính chất mức độ của tội phạm:
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phùng Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 26/10/2021, khi đang điều khiển xe moto tại khu vực xóm Cầu Trọng, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, Phùng Văn T đã nhặt được một gói ma túy bên đường, T đã cất giấu trong người với mục đích sử dụng cho bản thân, thì bị cơ quan công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang toàn bộ số ma túy bị cáo cất giấu, gồm 324,45g heroine và 35,09g methamphetamine. Ngoài ra Cơ quan điều tra khi khám xét nơi ở của Phùng Văn T còn thu giữ được 237,72g heroine Phùng Văn T cất giấu để dùng dần. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang và các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phùng Văn T đã tàng trữ hai chất ma túy, gồm: 562,17g heroine và 35,09g Methamphetamine. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh ra các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo vừa chấp hành xong bản án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học để làm lại cuộc đời mà lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Từ đó thấy được thái độ coi thường pháp luật của bị cáo Phùng Văn T, do vậy cần có hình phạt nghiêm khắc để xử phạt bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi mà bị cáo đã thực hiện để trừng trị bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Ngày 26/10/2021 bị cáo Phùng Văn T bị bắt quả tang đang tàng trữ trong người 324,45g heroine và 35,09g methamphetamine. Trước đó vào năm 2005, bị cáo đã cất giấu tại nhà 237,72g heroine và bị Cơ quan điều tra khám xét thu giữ. Hành vi 2 lần tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo có một tiền án, bị xử phạt 20 năm tù, đã chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 01/8/2019. Đến ngày 26/10/2021 tiếp tục phạm tội đặc biệt nghiêm trọng khi chưa được xóa án tích. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo đã T khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng cho bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
*Cơ quan điều tra đã thu giữ 562,17g heroine; 35,09g Methamphetamine. Sau trích mẫu gửi giám định, tổng khối lượng còn lại là 532,55g heroine và 31,46g Methamphetamine. Đây là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
* Thu giữ của bị cáo Phùng Văn T: 02 điện thoại di động; 01 căn cước công dân; 01 Giấy phép lái xe; Số tiền 4.100.000đ (Bốn triệu một trăm nghìn đồng). Xét đây là những tài sản, đồ vật của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Phùng Văn T.
* Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 xe moto BKS 28M1-022.88 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe moto mang tên Phùng Văn Thao. Qua xác minh đã xác định đây là các tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Ngọc S không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho anh S là chủ sở hữu hợp pháp.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không được hưởng lợi, không có thu nhập do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Những vấn đề khác trong vụ án:
Đối với người đàn ông dân tộc Mông tại khu vực rừng già thuộc huyện Vân Hồ, S La là người đã bán ma túy cho Phùng Văn T từ năm 2005. Do nhân thân, lai lịch không rõ ràng, nên không đủ cơ sở xác minh làm rõ được để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Ngọc S là chủ chiếc xe mô tô BKS: 28M1-022.88, qua điều tra xác minh anh S không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Về án phí: Các bị cáo Phùng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 39; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về nghĩa vụ nộp án phí;
1. Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Phùng Văn T tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2021.
2. Về vật chứng vụ án:
* Tịch thu, tiêu hủy:
- Số lượng ma túy thu giữ của Phùng Văn T đựng trong:
01 hộp niêm phong còn nguyên vẹn, một mặt đề chữ: “Mẫu vật còn lại sau khi giám định. Vụ Phùng Văn T, sinh năm 1964 – phạm tội về ma túy. Xảy ra ngày 26 tháng 10 năm 2021, tại xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Hộp niêm phong 01 – Tang vật quả tang: 01 mẫu ma túy, loại Heroine (317,85g); 02 mẫu ma túy loại Methamphetamine (G1: 15,42g; G2: 16,04g)”. Tại mép dán có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký T phần tham gia niêm phong.
01 hộp niêm phong còn nguyên vẹn, một mặt đề chữ: “ Mẫu vật còn lại sau khi giám định. Vụ Phùng Văn T, sinh năm 1964 – phạm tội về ma túy. Xảy ra ngày 26 tháng 10 năm 2021, tại xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình – Hộp niêm phong 02 – Tang vật khám xét: 07 mẫu ma túy, loại Heroine (Gói 1: 35,02g; Gói 2: 34,84g; Gói 3: 32,59g; Gói 4: 29,82g; Gói 5: 23,92g; Gói 6: 32,81g; Gói 7: 25,70g)”. Tại mép dán có dấu niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký T phần tham gia niêm phong.
* Trả lại cho bị cáo Phùng Văn T:
- 01 (một) điện thoại di dộng màu đỏ tím đen, mặt sau có chữ OPPO bên trong có 01 sim của mạng di động Viettel, máy đã qua sử dụng, tình trạng máy cũ chày xước ( không tiến hành kiểm tra bên trong máy điện thoại).
- 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu KINGREAT; bên trong có 01 sim của mạng di động vinaphone; máy đã qua sử dụng, tình trạng máy cũ, chày xước ( không tiến hành kiểm tra bên trong máy điện thoại)
- 01 (một) căn cước công dân số 017064000604 mang tên Phùng Văn T;
- 01 (một) giấy phép lái xe số 170213001100 mang tên Phùng Văn T;
- Tiền Việt Nam: 4.100.000đ (Bốn triệu một trăm nghìn đồng) đựng trong 01 (một) phong bì dán kín, một mặt đề chữ : „„Niêm phong tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam (Đã qua giám định) có tổng giá trị 4.100.000đ (Bốn triệu một trăm nghìn đồng) là vật chứng thu giữ trong vụ án : Phùng Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy bị bắt quả tang ngày 26/10/2021 tại xã Phong Phú, Tân Lạc, Hòa Bình‟‟. Tai mép dán có chữ ký T phần tham gia niêm phong và dấu Tròn đỏ của Cơ quan Cản sát điều tra – Công an tỉnh Hòa Bình.
* Trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc S: 01 (một) xe moto nhãn hiệu Honda, số loại WAVERSX, màu S đỏ đen trắng, đã qua sử dụng. Số máy JC 52E-5181665; Số khung: RLHJC5225CY75597 xe đã cũ chày xước và qua sử dụng. không tiến hành kiểm tra tình trạng chi tiết bên trong; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 004353, tên chủ xe Hà Văn Thao; Biển số: 28M1 - 022.88.
(Chi tiết và tình trạng của vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 24/ BB-GNVC ngày 01/3/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hòa Bình với Cục thi hành án dân sự Tỉnh Hòa Bình)
3. Về án phí: Bị cáo Phùng Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ
thẩm;
Trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao; - VKSND CC; - CQĐT CAT; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - Cục THADS tỉnh Hòa Bình; - Trại Tạm giam CA tỉnh Hòa Bình; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bạch Thị Hồng Hoa |