- Tranh chấp gì? án hình sự — "BC H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 12/2022/HS-ST Ngày: 09-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Hường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Văn Sinh.
2. Bà Dương Thị Quyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Bùi Minh Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 09-5-2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Lâm Thị H, sinh ngày 03-8-2001; Tại: Tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Khóm 1, thị trấn R, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp. Chỗ ở hiện nay: Ấp 2, xã B, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm Phước G, sinh năm 1964 (sống) và bà Nguyễn Thi ̣ H, sinh năm 1962 (sống); Anh chị em ruột: 04 người, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo H tại ngoại điều tra (có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hồ Quốc T, sinh năm 1988.
Cư trú: Số 05, ấp H, xã P, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
- Những người làm chứng:
1. Nguyễn Văn K, sinh năm 1963.
Cư trú: Khóm 2, thị trấn R, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
2. Lâm Diễm L, sinh năm 1991.
3. Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1988.
Cùng cư trú: Ấp 2, xa B, huyện Tân Hỗ
̀ng, tỉnh Đồng Tháp.
(Anh T, ông K, chị L, chị D vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 14-01-2022, Công an huyện Tân Hồng phối hợp với Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đồng Tháp và Công an thị R, huyện Tân Hồng tiến hành tuần tra trên địa bàn khu vực khóm 2, thị trấn R, huyện Tân Hồng thì phát hiện Lâm Thị H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 66K1-289.09 có dấu hiệu nghi vấn nên yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra thì phát hiện trong tay của Lâm Thị H có 02 bọc nylon được hàn kín 02 đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng, nghi là ma túy nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
* Vật chứng thu giữ:
- 02 bọc nylon màu trắng hàn kín, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể rắn màu trắng.
- 01 xe mô tô biển kiểm soát: 66K1-289.09, nhãn hiệu: Honda, màu xám, loại xe: Future.
* Tại Bản kết luận giám định số: 51/KL-KTHS ngày 16/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: Tinh thể rắn chứa trong hai bọc nylon màu trắng hàn kín, được niêm phong trong bao thư ký hiệu số 01 gửi giám định đều là chất ma tuý, có tổng khối trọng lượng 0,525gam, loại Methamphetamine (số thứ tự 323 thuộc Danh mục II. Nghị định số: 73 ngày 15/52018 của Chính phủ). Sau khi giám định hoàn trả lại 0,486 gam ma tuý.
Việc Lâm Thị H lấy xe mô tô biển kiểm sát: 66K1-289.09, nhãn hiệu: Honda của anh Hồ Quốc T chạy để mua ma túy thì anh T không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Hồng đã trả lại xe cho anh T quản lý.
Đối với người thanh niên (không biết họ, tên và địa chỉ) bán ma túy cho H. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Hồng chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.
Ta ̣i Cáo trạng số 10/CT-VKSTH ngày 29-3-2022, của Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Tân Hồng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phần luận tội, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lâm Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không có;
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Lâm Thị H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lâm Thị H mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Kiểm sát viên đề nghị: Tịch thu tiêu hủy đối với 0,486gam ma túy sau khi giám định hoàn trả la ̣i.
Ta ̣i phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận mà tại lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Hồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, Kiểm sát viên trong quá trình tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, lời khai thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo Lâm Thị H phù hợp với nội dung Cáo trạng truy tố, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đây là vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy do bị cáo Hiền thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,525gam, mục đích để sử dụng.
[3] Căn cứ vào Kết luận giám định số 51/KL-KTHS ngày 16-01-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: Tinh thể rắn chứa trong hai bọc nylon màu trắng hàn kín, được niêm phong trong bao thư ký hiệu số 01 gửi giám định đều là chất ma tuý, có tổng khối trọng lượng 0,525gam, loại Methamphetamine (số thứ tự 323 thuộc Danh mục II. Nghị định số: 73 ngày 15/52018 của Chính phủ về quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất), đây là chất cấm tàng trữ. Đồng thời qua tranh tụng tại phiên tòa bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi tội phạm của mình, như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lâm Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ... c) … Methamphetamine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến chính sách độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Khi thực hiện hành vi vi phạm, bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi, bị cáo nhận thức được hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguồn gốc phát sinh của nhiều tội phạm hình sự, nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có điều kiện giáo dục cho bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội. Nhưng Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo trong việc lượng hình để răn đe, giáo dục bị cáo nhằm có tác dụng đấu tranh và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có. Về nhân thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Từ những tình tiết phân tích nêu trên Hội đồng xét xử xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xét thấy bản thân bị cáo chỉ làm thuê và phụ giúp gia đình, không có thu nhập ổn định, bị cáo cũng không có đảm nhiệm chức vụ gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
[6] Đối với người thanh niên (không biết họ, tên và địa chỉ) bán ma túy cho Hiền. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Hồng chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát: 66K1-289.09, nhãn hiệu: Honda, màu xám, loại xe: Future của anh Hồ Quốc T. Việc Lâm Thị H lấy xe chạy để mua ma túy thì anh T không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Hồng đã trả lại xe cho anh T quản lý. Nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
- Tịch thu tiêu hủy đối với 0,486gam ma túy loại Methamphetamine sau khi giám định hoàn trả lại.
[8] Về án phí: Bị cáo Lâm Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Xét thấy phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lâm Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lâm Thị H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,486gam ma túy loại Methamphetamine hoàn trả lại sau giám định hiện nay do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01-4-2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Hồng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lâm Thị H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 09- 5-2022). Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND tỉnh ĐT; - Sở Tư pháp tỉnh ĐT; - VKSND huyện Tân Hồng; - CQCSĐTCA huyện Tân Hồng; - Cơ quan THAHSCA huyện Tân Hồng; - CCTHADS huyện Tân Hồng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Mỹ Hường |