vanban.org

Bản án 12/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 08/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Tòng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt: Tòng Văn T 16 (mười sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 21/7/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ban an HS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2022/HS-ST
Ngày: 08-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lò Văn Viễn.

2. Ông Quàng Văn Tiện.

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thuỳ Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Sộng Nỏ Ly – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2022, tại Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 12/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 07/2022/QĐXXST-HS ngày 25/10/2022, đối với bị cáo:

Tòng Văn T, tên gọi khác: Không, sinh năm 1984; nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tòng Văn S và con bà: Lò Thị C; vợ là: Lò Thị B, có 02 người con, con lớn sinh 2012, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản bán số 84 ngày 31/7/2013 của TAND huyện Sông Mã xử phạt 30 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Tại quyết định số 60 ngày 02/6/2011 của Công an huyện Sông Mã, xử phạt 1.500.000 đồng đối với Tòng Văn T về hành vi không giao nộp vật liệu nổ.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/7/2022 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên toà, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 05 phút ngày 21/7/2022, tổ công tác Công an xã Chiềng Sơ, huyện Sông Mã làm nhiệm v test thử ma tuý tại Bản P, xã C, huyện Sông Mã. Khi đến nhà Tòng Văn T để test ma tuý, tổ công tác đã vận động T đem giao nộp các tài liệu, đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội (nếu có). Sau đó T đã lấy từ dưới đệm ngủ ra 02 gói nilon màu xanh để giao nộp, gói thứ nhất chứa chất bột màu trắng và gói thứ hai chứa 01 viên nén màu hồng (T khai nhận là Hồng phiến và Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.

Ngày 22/7/2022 tại cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã, Hội đồng bóc m niêm phong tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả: số bột màu trắng có khối lượng là 0,03gam; viên nén màu hồng có khối lượng là 0,10 gam. Đã sử d ng toàn bộ để làm mẫu gửi giám định ký hiệu lần lượt là T1, T2.

Tại bản kết luận giám định số 1272 ngày 23/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là ma tuý; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,03gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu T2 là ma tuý; loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,03gam; loại Heroine và 0,10 gam loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 20/7/2022, Tòng Văn T đem theo số tiền 300.000 đồng một mình đi bộ từ nhà bản P lên bản T, xã C, Sông Mã để tìm mua ma tuý về sử d ng. Khi đến bản T thì T gặp một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch đang đứng ven đường, T hỏi mua được 02 gói ma tuý với số tiền 300.000 đồng, trong đó một gói chứa Heroine gói còn lại chứa 03 viên Hồng phiến. Mua được ma tuý T đem về, trên đường về T đã trích ra 02 viên Hồng phiến và một ít Heroine để sử d ng, số còn lại T gói lại thành hai gói riêng biệt và đem về nhà m c đích để sử d ng. Khi về đến nhà T giấu hai gói ma tuý vào đệm ngủ, đến trưa ngày 21/7/2022 tổ công tác Công an xã Chiềng Sơ đến test thử ma tuý, đồng thời vận động T nếu có tài liệu, đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội thì đem giao nộp nên T đã lấy 02 gói ma tuý giấu dưới đệm ngủ ra để giao nộp. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.

Cáo trạng số: 147/CT-VKSSM ngày 11 tháng 10 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố Tòng Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo từ 16 đến 22 tháng tù. Bị cáo không có tài sản, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên được miễn hình phạt bổ sung (là phạt tiền); về án phí: Bị có không thuộc trường hợp được miễn nên phải chịu án phí theo quy định chung; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật; bị cáo có quyền kháng cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra công an huyện Sông Mã - Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Sông Mã - Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định tội danh:

- Hồi 14 giờ 05 phút ngày 21/7/2022, Tòng Văn T sau khi được tổ công tác đã vận động giao nộp các tài liệu, đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội (nếu có), sau đó T đã lấy từ dưới đệm ngủ ra 02 gói nilon màu xanh để giao nộp, gói thứ nhất chứa chất bột màu trắng và gói thứ hai chứa 01 viên nén màu hồng. Theo kết luận giám định đều là ma tuý; loại Methamphetamine có khối lượng 0,10gam; loại Heroine có khối lượng 0,03gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ của bị cáo là 0,13 gam, m c đích Tàng trữ để sử d ng cá nhân.

- Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới.

Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ s kết luận: Bị cáo Tòng Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, kh i tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Bị cáo là người có nhân thân xấu, từng có tiền án, tiền sự. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng, nghiêm khắc và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo d c bị cáo và để phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ là (người phạm tội thành khẩn khai báo) quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

5 Về vấn đề khác liên quan trong v án: Đối với người đàn ông dân tộc Mông theo bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo tại địa phận bản T, xã C, Sông Mã. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ c thể người này nên Cơ quan điều tra không có cơ s để điều tra, m rộng v án là có căn cứ, cần chấp nhận.

6 Vật chứng của v án còn lại: 01 phong bì niêm phong, chứa: 02 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc m đều là vật không còn giá trị sử d ng, cần tịch thu tiêu huỷ.

7 Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên không áp d ng hình phạt bổ sung (là phạt tiền).

Về án phí: Bị có không thuộc trường hợp được miễn, nên phải chịu án phí theo quy định chung.

Đối với quan điểm của Kiểm sát viên về nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Tòng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Tòng Văn T 16 (mười sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 21/7/2022.

Không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì thư do bưu điện Việt Nam phát hành, đã miên phong kín, bên trong chứa: 02 mảnh Nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc m .

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 139 ngày 11/10/2022 của Viện kiểm sát huyện Sông Mã và biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/10/2022 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự, các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố t ng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 08/11/2022.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ