vanban.org

Bản án 12/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 28/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Triệu Văn B và Bàn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy (01) phong bì niêm phong có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong là Heroine (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Văn B+ Bàn Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Triệu Văn B và Bàn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NA HANG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2022/HS-ST
Ngày 28 tháng 4 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N , TỈNH T

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Ngọc Thức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Quang Toán.

2. Ông Quan Văn Ngụ.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N , tỉnh T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang tham gia phiên tòa: Ông Ma Công Đằng- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N , tỉnh T, Tòa án nhân dân huyện Na Hang tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 12/2022/TLST-HS, ngày 25 tháng 3 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2022/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 4 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Triệu Văn B, sinh ngày 22/8/1990; nơi sinh: huyện N , tỉnh T; nơi ĐKHKTT: Thôn Nà Đứa, xã Đà Vị, huyện N , tỉnh T; Chỗ ở: Thôn Nà Bản, xã Đã Vị, huyện N , tỉnh T; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Triệu Văn Nghị và bà Triệu Thị Nái; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2022. Có mặt.

2. Bàn Văn T, sinh ngày 19/9/1993; nơi sinh: huyện N , tỉnh T; nơi cư trú: Thôn Bản Muông, xã H, huyện N , tỉnh T; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bàn Tiến Vũ và bà Bàn Thị Nái; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2022. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 09/01/2022, Triệu Văn B, sinh năm 1990, trú tại thôn Nà Bản, xã Đà Vị, huyện Na Hang đi ăn cưới tại thôn Nà Kiếm, xã H, huyện N , tỉnh T thì gặp Bàn Văn T, sinh năm 1993, trú tại thôn Bản Muông, xã H, huyện Na Hang. B rủ T sang huyện B Bể, tỉnh Bắc Kạn để mua Heroine về sử dụng, T đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER X, màu sơn đỏ, biển số 22N1 – 06355 của ông Bàn Tiến Vũ, trú tại thôn Bản Muông, xã H, huyện Na Hang (là bố đẻ của T) chở B đi theo đường Quốc lộ 279 hướng sang huyện B Bể, tỉnh Bắc Kạn. Khi đi qua thị trấn Chợ Rã, huyện B Bể, tỉnh Bắc Kạn khoảng 5km thì cả hai gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi, cao khoảng 1,6m (không biết tên, địa chỉ) đứng ở lề đường trông giống người nghiện ma túy. B bảo T dừng xe lại, B xuống xe đi bộ đến hỏi và mua với người đàn ông này 01 gói Heroine bên ngoài được bọc giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột vón cục màu trắng ngà, với giá 450.000 đồng. Sau đó B cầm gói nhỏ Heroine trong lòng bàn tay trái rồi bảo T đi vào chỗ khuất cạnh lề đường lấy một phần từ gói Heroine vừa mua được hòa vào nước cất và xilanh đã chuẩn bị trước cùng T sử dụng bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể, số Heroine còn lại B gói vào giấy bạc màu vàng như Bn đầu, lấy vỏ Bo xilanh màu trắng gói bên ngoài, dùng bật lửa hàn kín mép gói lại rồi cầm trong lòng bàn tay trái và cùng T đi về nhà.

Hồi 17 giờ 45 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô chở B mang theo gói Heroine đã mua trước đó về đến đoạn đường Km63+100, Quốc lộ 280, thuộc thôn Nà Pục, xã Đà Vị, huyện N , tỉnh T thì bị Tổ công tác Công an huyện Na Hang kiểm tra phát hiện, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ trên người B 01 gói nhỏ bên ngoài bọc bằng ni lon màu trắng, bên trong bọc bằng giấy bạc màu vàng, trong cùng là chất bột màu trắng ngà nghi là ma túy (Heroine). Triệu Văn B và Bàn Văn T khai là Heroine, mua về để sử dụng.

Ngày 09/01/2022, tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể Triệu Văn B và Bàn Văn T, kết quả: (+) dương tính với chất ma túy Heroine (có chất ma túy trong cơ thể B, T).

Tại Bản kết luận giám định số 129/GĐ-KTHS ngày 12/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Số chất bột màu trắng ngà trong gói nhỏ thu giữ của Triệu Văn B gửi giám định là chất ma túy (Heroine), khối lượng 0,233 gam (Không phẩy hai B B gam).

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Na Hang đã tạm giữ 01 phong bì niêm phong có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có chứa Heroine; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WINNER X, màu đỏ, biển số 22N1-06355.

Ngày 24/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Na Hang đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 06 trả lại chiếc xe mô tô biển số 22N1-06355 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Bàn Tiến Vũ .

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Triệu Văn B và Bàn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ; Biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số: 14/CT-VKSNH ngày 12/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang truy tố bị cáo Triệu Văn B và Bàn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang luận tội và đề nghị HĐXX: Tuyên bố Triệu Văn B, Bàn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Đề nghị căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Văn B từ 16 tháng đến 20 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam.

Đề nghị căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bàn Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản có giá trị và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong là Heroine.

Ngoài ra đề nghị HĐXX buộc các bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về xem xét hành vi của các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình; lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ; Biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy; Kết luận giám định và toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 45 phút ngày 09/01/2022, tại đoạn đường Km63+100, Quốc lộ 280, thuộc thôn Nà Pục, xã Đà Vị, huyện N , tỉnh T, Triệu Văn B, sinh năm 1990, trú tại thôn Nà Bản, xã Đà Vị, huyện Na Hang và Bàn Văn T, sinh năm 1993, trú tại thôn Bản Muông, xã H, huyện Na Hang đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,233 gam (Không phẩy hai B B gam) Heroine. Mục đích B mua ma túy để cùng T sử dụng.

Theo kết luận giám định số chất bột màu trắng ngà trong gói nhỏ thu giữ của Triệu Văn B gửi giám định là chất ma túy (Heroine), khối lượng 0,233 gam, các bị cáo khai mục đích mua về để sử dụng nên đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của nhà nước. Các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, bản thân các bị cáo là người nghiện ma túy nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện việc phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên trong vụ án này tính chất, mức độ, vai trò, hành vi phạm tội của các bị cáo là khác nhau cụ thể: Bị cáo Triệu Văn B là người khởi xướng rủ bị cáo T đi mua ma túy, bị cáo trực tiếp trao đổi, mua bán ma túy với người đàn ông ở huyện B Bể, tỉnh Bắc Kạn do đó bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Bàn Văn T khi được bị cáo B đề xuất về việc đi mua ma túy đã ngay lập tức đồng ý và dùng xe máy trở bị cáo B đi, trong vụ án này bị cáo là đồng phạm giúp sức tích cực và giữ vai trò thấp hơn bị cáo B.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo B là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần xử phạt các bị cáo hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục cũng như phòng ngừa tội phạm chung và xử phạt các bị cáo mức án trong phạm vi đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp có căn cứ.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có tài sản có giá trị và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

. Về vật chứng liên quan đến vụ án: 01 phong bì niêm phong có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong là Heroine cần tịch thu tiêu hủy;

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

. Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông mà B và T khai đã bán trái phép chất ma túy tại khu vực cách thị trấn Chợ Rã, huyện B Bể, tỉnh Bắc Kạn khoảng 05 Km, quá trình điều tra không xác định được tên, địa chỉ, nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phét chất ma túy của Triệu Văn B và Bàn Văn T vào ngày 09/01/2022, Công an huyện Na Hang Bn hành các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 08, 09/QĐ-XPHC ngày 15/01/2022 bằng hình thức phạt Cảnh cáo.

Đối với ông Bàn Tiến Vũ là chủ sở hữu chiếc xe môtô nhãn hiệu HONDA WINNER, biển kiểm soát: 22N1-06355, khi cho T mượn xe ông Vũ không biết T sử dụng xe mô tô làm phương tiện chở B đi mua Heroine, nên không đề cập xử lý trong vụ án.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Triệu Văn B và Bàn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Văn B 01 năm 04 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 09/01/2022.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bàn Văn T 01 năm 03 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 09/01/2022.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy (01) phong bì niêm phong có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong là Heroine (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Na Hang và Chi cục thi hành án dân sự huyện Na Hang lập ngày 25/3/2022).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Triệu Văn B, Bàn Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ