- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2022/HS - ST Ngày: 27/01/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Năng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Bửu Khánh
Ông Võ Minh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Đình Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2021/TLST - HS ngày 03/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2022/QĐXXST - HS ngày 17/01/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 1980, tại huyện H, tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú và nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã C, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B bà Huỳnh Thị C; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị bắt tạm giữ ngày 11/8/2021 đến ngày 19/8/2021 chuyển sang tạm giam cho đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 11 tháng 8 năm 2021, lực lượng Công an huyện Giồng Riềng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thành Đ sinh năm 1980, nơi cư trú ấp H, xã C, huyện T, tỉnh An Giang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trên người tại ấp Thạnh Phú, xã Thạnh Phước, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Tại hiện trường lực lượng Công an thu giữ trên người Nguyễn Thành Đ 01 bịch nylon lớn có rãnh cài viền đỏ kích thước 10cm x 5,8cm bên trong để 05 bịch nylon có kích thước lần lượt 03cm x 1,5cm, 2,9 x 1,3cm (02 bịch), 2,8cm x 1,1cm, 2,1 x 1,2cm được hàn kín hai đầu có chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất và 01 bịch nylon màu da cam có chữ QEXPRESS, được bịt kín bằng băng keo màu xám có kích thước 4,2cm x 3,5cm bên trong đựng 03 (ba) bịch nylon có kích thước lần lượt 03cm x 2,6cm , 2,7cm x 2,6cm, 2,5cm x 2,5cm có chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất được hàn kín mà Được khai nhận là ma túy đá (Bút lục số: 01, 02).
Kết quả điều tra đã chứng minh vào ngày 10 tháng 8 năm 2021, Nguyễn Thành Đ thông qua một người đàn ông tên Nam Bóng (không rõ nhân thân lai lịch) giới thiệu mua ma túy từ một người đàn ông không rõ nhân thân tại quán Sao Mai thuộc huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang với giá 900.000 đồng mang về chia ra 08 bịch để sử dụng và dự định mang đi bán lại kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 11 tháng 8 năm 2021 tại ấp Thạnh Phú, xã Thạnh Phước, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (Bút lục số 01, 02, 03, 04, 74 đến 85).
Ngày 19/8/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thành Đ.
Vật chứng thu giữ được trong vụ án gồm:
- 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Bastos, bị rách không còn nguyên.
- 03 túi nylon có kích thước và lần lượt là: 01 túi nylon có rãnh cài viền đỏ kích thước 10cm x 5,8cm; 01 túi nylon màu da cam có chữ QEXPRESS kích thước 4,2cm x 3,5cm và 01 túi nylon kích thước 3,3cm x 03cm.
- Tiền Việt Nam 495.000 đồng.
- 02 di động bao gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh, số Imel 1: 357755101232948; số Imei 2: 357755102232947: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đỏ, số Imel 1: 866376041667798; Số Imel 2: 866376041667780, không kiểm tra trạng thái hoạt động, cùng 02 sim số 0356843929 và 0783953844.
- Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký của giám sát viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm yết phong Nguyễn Võ Bảo Thuận và đóng dấu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang. Gồm có nhiều hạt tinh thể trong suốt còn lại sau giám định là 2,0713 gam, được đựng trong 01 bịch nylon và bao gói đựng mẫu được niêm phong có ký hiệu 807/2021.
Tại bản kết luận giám định số: 807/KL - KTHS ngày 18/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Nhiều hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất chứa trong 08 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 2,0971 gam.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Được không khiếu nại về bản kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 60/CT - VKS - GR ngày 03 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị miễn phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- Tiêu hủy 2,0713 gam là chất ma túy, loại Methamphetamine được để trong 01 gói niêm phong có ký hiệu số 807/2021; 01 vỏ bao thuốc Bastos, bị rách không còn nguyên; 03 bịch nylon có kích thước và điểm lần lượt là: 01 bịch nylon có các rãnh cài viền đỏ kích thước 10cm x 5,8cm; 01 túi nylon màu da cam có chữ QEXPRESS kích thước 4,2cm x 3,5cm và 01 túi nylon kích thước 3,3cm x 03cm;
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đỏ, số Imel 1: 866376041667798; số Imel 2: 866376041667780, không kiểm tra tình trạng máy hoạt động, máy đã qua sử dụng, cùng 2 sim số 035.684.3929 và 0783.953.3844.
- Trao trả cho bị cáo 495.000 đồng và 01 điện thoại di động Nokia màu xanh do không liên quan đến vụ án.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đã biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận về hành vi của bị cáo, hoàn cảnh khó khăn mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và không phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Giồng Riềng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo Đ thừa nhận hành vi vi phạm của bị cáo đúng với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, cụ thể: Vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 11 tháng 8 năm 2021, lực lượng Công an huyện Giồng Riềng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thành Đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trên người tại ấp Thạnh Phú, xã Thạnh Phước, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Tại hiện trường lực lượng Công an thu giữ trên người Nguyễn Thành Đ qua kết luận giám định 2,0971 gam ma túy loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, số thứ tự 323, Nghị định 73/2018/NĐ - CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ do Nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm các hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép, mọi hành vi vi phạm phải được xử lý nghiêm.
Như vậy, lời khai nhận của bị cáo Đ về hành vi vi phạm và các tình tiết của vụ án phù hợp với bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang và các chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Đối chiếu hành vi của bị cáo Đ với quy định của Bộ luật Hình sự đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Được về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Bị cáo Đ có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các qui định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương và là một trong các nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Tại phiên tòa, bị cáo Đ nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật. Cho nên, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Bị cáo Được không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Đ thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Do đó, có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên việc đại diện Viện kiểm sát đề nghị không phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu và tiêu hủy 2.0713 gam là chất ma túy, loại Methamphetamine được để trong 01 gói niêm phong có dịch vụ ký hiệu số 807/2021; 01 vỏ bao thuốc Bastos, bị rách không còn nguyên; 03 bịch nylon có kích thước và điểm lần lượt là: 01 bịch nylon có các rãnh cài viền đỏ kích thước 10cm x 5,8cm; 01 túi nylon màu da cam có chữ QEXPRESS kích thước 4,2cm x 3,5cm và 01 túi nylon kích thước 3,3cm x 03cm.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đỏ, số Imel 1: 866376041667798; số Imel 2: 866376041667780, không kiểm tra tình trạng máy hoạt động, máy đã qua sử dụng, cùng 2 sim số 035.684.3929 và 0783.953.3844.
- Đối với số tiền 495.000 đồng và 01 điện thoại di động Nokia màu xanh (theo Quyết định xử lý vật chứng số 45/QĐ-VKS, ngày 03 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang), quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra và qua truy tố của Viện kiểm sát, xác định tài sản trên không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử thống nhất tuyên trả cho bị cáo.
. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Thành Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 12 (mười hai) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 11/8/2021.
2. Về xử lý vật chứng, tiêu hủy:
- Tịch thu và tiêu hủy 2,0713 gam là chất ma túy, loại Methamphetamine được để trong 01 (một) gói niêm phong có dịch vụ ký hiệu số 807/2021; 01 (một) vỏ bao thuốc nhãn hiệu Bastos, bị rách không còn nguyên; 03 (ba) bịch nylon có kích thước và điểm lần lượt là: 01 (một) bịch nylon có các rãnh cài viền đỏ kích thước 10cm x 5,8cm; 01 (một) túi nylon màu da cam có chữ QEXPRESS kích thước 4,2cm x 3,5cm và 01 (một) túi nylon kích thước 3,3cm x 03cm.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đỏ, số Imel 1: 866376041667798; số Imel 2: 866376041667780, không kiểm tra tình trạng hoạt động máy, máy đã qua sử dụng, cùng 2 sim số 035.684.3929 và 0783.953.3844.
- Trao trả bị cáo số tiền 490.000 đồng (bốn trăm chín mươi nghìn đồng) và 01 điện thoại nokia màu xanh số Imel1: 866376041667798, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động máy theo Quyết định xử lý vật chứng số 45/QĐ-VKS, ngày 03 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thành Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án là ngày 27/01/2022.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Giồng Riềng; - Nhà tạm giữ CA Giồng Riềng; - Cơ quan điều tra CA Giồng Riềng; - CQ Thi hành án huyện Giồng Riềng; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - UBND xã (nơi bị cáo cư trú); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Năng |