vanban.org

Bản án 12/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum Tuyên án 15/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Tô Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Tô Minh Đ mức án 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/12/2021. Hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo Tô Minh Đ số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để sung quỹ Nhà Nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "12. bản án hình sự tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tô Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐĂK H
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2022/HS-ST
Ngày: 10-5-2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK H, TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trọng Hàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Đình Trình

2. Bà Phạm Thị Giang

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Huynh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2022/TLST- HS ngày 05 tháng 4 năm 2022. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Tô Minh Đ; sinh ngày 04/7/1999, tại tỉnh Kon Tum; Quê quán: X Tiến T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Đăk T, xã Đăk N, huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tô M Thăng, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; Bị cáo có vợ là Đặng Thị Hát, sinh năm 2001. Bị cáo hiện chưa có con. Bị cáo là con út trong gia đình có 05 chị, em ruột.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2021 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 00 ngày 19/12/2021 bị cáo Tô Minh Đ đ gọi điện cho người phụ nữ tên Hạnh (chưa rõ nhân thân lai lịch) để mua ma túy sau đó Đức đi bộ từ nhà đến đoạn đường sau khu vực chợ Đăk H thuộc tổ dân phố 3, thị trấn Đăk H, huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum gặp Hạnh để mua ma túy, khi gặp Hạnh Đức đ mua một gói ma túy với số tiền 1.500.000đ rồi mang về nhà cất giấu. Đến ngày 21/12/2021 do có nhu cầu sử dụng ma túy và sợ người thân trong nhà phát hiện Đức đ dùng kéo có trong phòng ngủ của mình cắt làm hai phần của bì ma túy mà bị cáo mua trước đó. Đến khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày Đức đang đi ra cánh đồng để giấu một nữa ma túy thì bị lực lượng Công an huyện Đăk H đang tiến hành tuần tra phát hiện và yêu cầu Đức dừng lại để kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện và bắt quả tang trên tay phải của Đức đang cầm 01 (một) phong bì màu đỏ, mặt sau có chữ “Thank you”, mặt trước có dòng chữ “Trân trọng kính mời”, miệng hở của phong bì được dán bằng băng keo màu đen, tổ tuần tra yêu cầu Đức mở phong bì trên để kiểm tra thì phát hiện bên trong phong bì có chứa 01 (một) bì ni lông được hàn kín, kích thước (03x2,5)cm bên trong bì ni lông chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy. Tiếp tục kiểm tra phát hiện trên tay trái của Đức cầm 01 (một) điện thoại di động Nokia, bàn phím cứng, màu đen, đ qua sử dụng. Lực lượng tuần tra tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật, thu giữ các đồ vật, tài liệu có liên quan. Ngày 22/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk H ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 06/LKXKC-CSĐT, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đức tại thôn Đăk T, xã Đăk N, huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum thì phát hiện được vỏ thuốc có chữ “GOLDEN EAGLE”, bên trong vỏ thuốc 01 (một) bì ni lông trong suốt, kích thước (02x01)cm, bên trong bì ni lông chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy và một số đồ vật, tài liệu khác có liên quan. Lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk H tiến hành niêm phong tang vật, thu giữ các đồ vật, tài liệu có liên quan.

Tại bản Kết luận giám định số 240/KLGĐ-PC09 ngày 24 tháng 12 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kon Tum, kết luận:

- Mẫu hạt tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong trong bì thư thứ nhất gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,663gam, là loại: Methamphetamine.

- Mẫu hạt tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong trong bì thư thứ hai gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,108gam, là loại: Methamphetamine.

Tổng khối lượng: 0,771gam, là loại: Methamphetamine”.

Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 04 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk H, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo Tô Minh Đ về tộ “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk H phát biểu lời luận tội đối với bị cáo Tô Minh Đ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Tô Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị xử phạt: Bị cáo Tô Minh Đ mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/12/2021.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Tô Minh Đ.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 phong bì màu đỏ, mặt sau có chữ “Thank you”, mặt trước có dòng chữ “Trân trọng kính mời” miệng hở của phong bì được dán bằng băng keo màu đen.

- 0,753 gam matúy loại Methaphetamine. Đây là số matúy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (Một) phong bì mặt trước có in nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 240/KLGĐ-PC09”, mặt sau có các chữ ký ghi tên Nguyễn Hàn Ni; Từ Hữu Tài; Trịnh Văn Trường tại mép dán.

- 01 (Một) cuộn băng keo dán màu đen, đ qua sử dụng.

- 01 (Một) nửa phong bì màu đỏ, miệng hở, bên ngoài có dán băng keo màu đen.

- 01 (Một) chiếc kéo có tay cầm bọc nhựa màu đen.

- 01 (Một) vỏ thuốc có chữ “GOLDEN EAGLE”.

- 01 (Một) hộp giấy màu trắng, hình chữ nhật, kích thước (17x8)cm, bên trong hộp giấy có: 01 (một) chiếc quẹt ga màu xanh, trên quẹt có chữ “BIC”; 01 (một) ống thủy tinh một đầu có hình cầu miệng hở, một đầu được uốn cong có gắn đoạn ống hút nhựa màu cam. Bên trong hộp giấy gắn đế màu đen, phía trên đế có 01 (một) chai nhựa hình bầu dục trong suốt có nắp màu đen, trên nắp có gắn 01 (một) đoạn ống nhựa và 01 (một) đoạn ống hút nhựa, bên trong chai nhựa có chứa nước trong suốt.

Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (Một) chiếc điện thoại di động Nokia, bàn phím cứng, màu đen, đ qua sử dụng.

Ngoài ra, Kiểm sát viên đề nghị hội đồng xét xử tuyên về phần án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Tô Minh Đ thành khẩn khai nhận tòa bộ hành vi phạm tội. Bị cáo Tô Minh Đ không có ý kiến bào chữa và tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét dầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Đăk H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:

Tại phiên tòa, bị cáo Tô Minh Đ đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đ truy tố. Xét lời khai của bị cáo là phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội thể hiện;

Bản thân Tô Minh Đ là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 19h ngày 19/12/2021, Đức đ liên lạc và mua ma túy của Hạnh (chưa rõ nhân thân lai lịch) với số tiền là 1.500.000đ. Ngày 21/12/2021, Đức chia số ma túy đ mua thành 2 phần để tiện cất giấu và tránh bị phát hiện. Đến khoảng 23h30 phút cùng ngày, khi đang cầm phần ma túy gói trong phong bì thiệp cưới màu đỏ đi cất giấu ở cánh đồng phía trước nhà thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk H phát hiện, bắt quả tang và thu giữ số ma túy nêu trên. Quá trình khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Tô Minh Đ, lực lượng Công an đ phát hiện và thu giữ thêm phần ma túy còn lại của Đức được bỏ trong vỏ thuốc có chữ “GOLDEN EAGLE”, bên trong vỏ thuốc có 01 (một) bì ni lông trong suốt, kích thước (02x01)cm bên trong bì ni lông chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy và một số đồ vật, tài liệu khác có liên quan.

Theo kết luận giám định số 240/KLGĐ-PC09, ngày 24 tháng 12 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kon Tum thì: “Mẫu chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1 và M2) được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng: 0,771gam, là loại: Methamphetamine”.

Hành vi đó của bị cáo Tô Minh Đ đ phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại thời điểm thực hiện hành vi tội phạm, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho x hội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với với hành vi phạm tội mà bị cáo đ thực hiện với lỗi cố ý.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo gây nguy hại cho xã hội, tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đ xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện rất nguy hiểm gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác cho đời sống xã hội. Ý thức rõ tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi đó của bị cáo là tiền đề dẫn dắt, hình thành các tội phạm khác có thể xảy ra.

Về nhân thân, và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Tô Minh Đ là người chưa có tiền án, tiền sự. Mặc dù, đ lập gia đình, nhưng không lo tu chí làm ăn mà lại sa vào con đường nghiện hút. Do đó, cần đưa bị cáo ra xét xử nhằm giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người biết tôn trọng pháp luật, sống có ích cho x hội. Mặt khác, nhằm răn đe và phòng ngừa chung trong tình hình tội phạm về ma túy ngày càng gia tăng, diễn biến phức tạp như hiện nay.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Tô Minh Đ đ thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. HĐXX xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi x hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người biết tôn trọng pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk H đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Tô Minh Đ. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không thuộc diện gia đình có hoàn cảnh gia đình khó khăn (hộ nghèo hay cận nghèo), nên cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Tô Minh Đ để đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đăk H đ tiến hành thu giữ các tài liệu, chứng cứ sau:

- 01 phong bì màu dỏ, mặt sau có chữ “Thank you”, mặt trước có dòng chữ “Trân trọng kính mời” miệng hở của phong bì được dán bằng băng keo màu đen.

- 0,771 gam matúy loại Methaphetamine.

- 01 (Một) cuộn băng keo dán màu đen, đ qua sử dụng.

- 01 (Một) nửa phong bì màu đỏ, miệng hở, bên ngoài có dán băng keo màu đen.

- 01 (Một) chiếc kéo có tay cầm bọc nhựa màu đen.

- 01 (Một) vỏ thuốc có chữ “GOLDEN EAGLE”.

- 01 (Một) hộp giấy màu trắng, hình chữ nhật, kích thước (17x8)cm, bên trong hộp giấy có: 01 (một) chiếc quẹt ga màu xanh, trên quẹt có chữ “BIC”; 01 (một) ống thủy tinh một đầu có hình cầu miệng hở, một đầu được uốn cong có gắn đoạn ống hút nhựa màu cam. Bên trong hộp giấy gắn đế màu đen, phía trên đế có 01 (một) chai nhựa hình bầu dục trong suốt có nắp màu đen, trên nắp có gắn 01 (một) đoạn ống nhựa và 01 (một) đoạn ống hút nhựa, bên trong chai nhựa có chứa nước trong suốt.

- 01 (Một) chiếc điện thoại di động Nokia, bàn phím cứng, màu đen, đ qua sử dụng.

Đối với 0,771 gam chất ma túy loại Methamphetamine. Đây là số ma túy mà bị cáo Tô Minh Đ đ mua của một người phụ nữ tên Hạnh chưa rõ nhân thân lai lịch để về sử dụng. Đây là tang vật của vụ án bị Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (Một) cuộn băng keo dán màu đen, đ qua sử dụng; 01 phong bì màu đỏ, mặt sau có chữ “Thank you”, mặt trước có dòng chữ “Trân trọng kính mời” miệng hở của phong bì được dán bằng băng keo màu đen; 01 (Một) nửa phong bì màu đỏ, miệng hở, bên ngoài có dán băng keo màu đen; 01 (Một) chiếc kéo có tay cầm bọc nhựa màu đen; 01 (Một) hộp giấy màu trắng, hình chữ nhật, kích thước (17x8)cm, bên trong hộp giấy có: 01 (một) chiếc quẹt ga màu xanh, trên quẹt có chữ “BIC”; 01 (một) ống thủy tinh một đầu có hình cầu miệng hở, một đầu được uốn cong có gắn đoạn ống hút nhựa màu cam. Bên trong hộp giấy gắn đế màu đen, phía trên đế có 01 (một) chai nhựa hình bầu dục trong suốt có nắp màu đen, trên nắp có gắn 01 (một) đoạn ống nhựa và 01 (một) đoạn ống hút nhựa, bên trong chai nhựa có chứa nước trong suốt được Đức cất giấu để sử dụng trái phép chất ma túy. Đây là đồ vật dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại di động Nokia, bàn phím cứng, màu đen, đ qua sử dụng được Đức sử dụng làm công cụ liên lạc mua ma túy nên cần thiết phải tịch thu sung quỹ Nhà nước là phù hợp.

Việc xem xét áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn: Xét thấy cần tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Các vấn đề khác:

Đối với người phụ nữ tên Hạnh (chưa rõ nhân thân lai lịch) đ bán ma túy cho bị cáo Đức. Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể người phụ nữ này. Khi nào xác định được s xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Tô Minh Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các l trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 38; điểm c khoản 1 khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Tô Minh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Tô Minh Đ mức án 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/12/2021.

Hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo Tô Minh Đ số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để sung quỹ Nhà Nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 phong bì màu đỏ, mặt sau có chữ “Thank you”, mặt trước có dòng chữ “Trân trọng kính mời” miệng hở của phong bì được dán bằng băng keo màu đen.

- 0,753 gam ma túy loại Methaphetamine. Đây là số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (Một) phong bì mặt trước có in nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 240/KLGĐ-PC09”, mặt sau có các chữ ký ghi tên Nguyễn Hàn Ni; Từ Hữu Tài; Trịnh Văn Trường tại mép dán.

- 01 (Một) cuộn băng keo dán màu đen, đ qua sử dụng.

- 01 (Một) nửa phong bì màu đỏ, miệng hở, bên ngoài có dán băng keo màu đen.

- 01 (Một) chiếc kéo có tay cầm bọc nhựa màu đen.

- 01 (Một) vỏ thuốc có chữ “GOLDEN EAGLE”.

- 01 (Một) hộp giấy màu trắng, hình chữ nhật, kích thước (17x8)cm, bên trong hộp giấy có: 01 (một) chiếc quẹt ga màu xanh, trên quẹt có chữ “BIC”; 01 (một) ống thủy tinh một đầu có hình cầu miệng hở, một đầu được uốn cong có gắn đoạn ống hút nhựa màu cam. Bên trong hộp giấy gắn đế màu đen, phía trên đế có 01 (một) chai nhựa hình bầu dục trong suốt có nắp màu đen, trên nắp có gắn 01 (một) đoạn ống nhựa và 01 (một) đoạn ống hút nhựa, bên trong chai nhựa có chứa nước trong suốt.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (Một) chiếc điện thoại di động Nokia, bàn phím cứng, màu đen, đ qua sử dụng.

(Các vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/4/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk H).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Tô Minh Đ phải chịu 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331; 332; 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (10/5/2022) bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh KonTum để yêu cầu giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ