- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (điều 232…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Hồ Xuân B 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2022/HS-ST Ngày: 14 - 6 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Nam và ông Nguyễn Thanh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chiên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Hoài My - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 6 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2021 đối với:
Bị cáo Hồ Xuân B. Tên gọi khác: không. Sinh năm 1992 tại huyện B, tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: thôn 01 (thôn 02 cũ), xã T, huyện B, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: nông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Cor; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị và 03 người con. Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 27/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Linh Dương – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Nam (có mặt).
- Nguyên đơn dân sự: Ban quản lý dự án Bảo vệ và Quản lý tổng hợp các hệ sinh thái rừng huyện B, tỉnh Quảng Nam (gọi tắt là Ban quản lý dự án KfW10 huyện B).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự: Ông Nguyễn Hồng V. Chức vụ: Phó giám đốc Ban quản lý dự án KfW10 huyện B, tỉnh Quảng Nam (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Ông Hồ Văn V, sinh năm: 1981 (vắng mặt).
Địa chỉ: thôn 01, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Nam.
+ Ông Đinh Hữu C, sinh năm 1974 (vắng mặt).
Địa chỉ: thôn 01, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Nam.
+ Ông Hồ Viết S, sinh năm 1968 (có mặt).
Địa chỉ: thôn 01, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Nam.
+ Ông Phạm Văn G, sinh năm 2006 (vắng mặt).
Địa chỉ: thôn 01, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Nam.
- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Văn Gan: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1977 (cha ruột) và bà Lê Thị G, sinh năm 1980 (mẹ ruột). Cùng địa chỉ: thôn 01, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 6/2020, bị cáo Hồ Xuân B vào khu vực rừng đầu nguồn suối Gôn thuộc khoảnh 01, tiểu khu 845, thôn 01, xã T, huyện B, là rừng tự nhiên dùng cưa máy cưa xẻ một cây gỗ thuộc chủng loại Xoan Đào (nhóm VI) cắt đoạn và cưa xẻ thành 06 phách để làm nhà. Bị cáo đã mượn trâu của ông Đinh Hữu Cường để kéo gỗ. Bị cáo kéo được 03 tấm về xẻ đà. Sau đó, do không mượn được trâu của ông Cường nữa nên bị cáo thuê ông Hồ Viết Sinh và anh Phạm Văn Gan dùng trâu vận chuyển 03 phách còn lại với giá là 150.000 đồng/một phách. Anh Phạm Văn Gan kéo 01 phách gỗ về đến khu vực ngã ba suối Gôn và Suối Trác thì để tại đó, phách gỗ trên bị phát hiện và bị chặt phá hư hỏng nên anh Gan không kéo về cho bị cáo. Anh Gan gặp bị cáo nói lại nội dung như trên thì bị cáo nói bỏ đi và trả công cho anh Gan số tiền 50.000 đồng, bị cáo cũng không lấy phách gỗ trên. Ngày hôm sau, ông Hồ Viết Sinh dùng 02 con trâu để kéo 02 phách gỗ về đến khu vực ngã ba Suối Gôn và Suối Trác thì để tại đó, 02 phách gỗ trên bị phát hiện và bị chặt phá hư hỏng nên ông Sinh không kéo về cho bị cáo, bị cáo cũng không lấy gỗ và không trả tiền công cho ông Sinh. Sau đó, ông Sinh kéo 02 phách gỗ trên về nhà xẻ được 15 tấm gỗ với mục đích tận dụng sử dụng trong gia đình. Đến ngày 22/7/2020, UBND xã T phát hiện thu giữ số gỗ trên tại nhà ông Sinh. Sau khi bị phát hiện, bị cáo không tiếp tục cưa xẻ, kéo gỗ về nhà mà bỏ tại rừng. Ngày 18/9/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện B phối hợp Hạt kiểm lâm huyện và chính quyền địa phương kiểm tra tại nhà bị cáo Hồ Xuân B và thu giữ 03 phách gỗ mà bị cáo đã vận chuyển về nhà nhưng số gỗ trên bị cáo đã sử dụng để làm nhà tại thôn 01, xã T, huyện B.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 25/02/2021 xác định vị trí cây gỗ bị cưa hạ có tọa độ X: 554984; Y: 1686474, thuộc khoảnh 01, tiểu khu 845, thôn 01, xã T, huyện B thuộc rừng tự nhiên. Khối lượng gỗ bị thiệt hại là 10,563 m3, số gỗ còn lại tại hiện trường là 7,554 m3, loài gỗ Xoan Đào thuộc nhóm VI trong nhóm loài thực vật thông thường.
Tại Quyết định số 120/QĐ-UBND ngày 11/01/2017 của UBND tỉnh Quảng Nam về quy hoạch ba loại rừng giai đoạn 2011-2020 xác định cây Xoan Đào bị khai thác thuộc rừng sản xuất là rừng tự nhiên do Ban quản lý dự án KfW10 huyện B quản lý.
Tại kết luận định giá số 17/KL-HĐĐGTS ngày 09/8/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Quảng Nam kết luận: 10,563 m3 gỗ Xoan Đào có giá trị là 63.208.000 đồng.
Bản cáo trạng số 22/CT-VKS-BTM ngày 02 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo Hồ Xuân B về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm b khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 điều 232; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Hồ Xuân B mức án từ 06 đến 09 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ theo điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điều 584 và 585 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3 điều 91 Luật Lâm nghiệp 2017, buộc bị cáo Hồ Xuân B có trách nhiệm phải bồi thường giá trị thiệt hại về lâm sản của cây gỗ Xoan Đào là 14.325.000 đồng (Mười B triệu ba trăm hai mươi lăm ngàn đồng). Đối với việc định giá giá trị thiệt hại, giá trị phải bồi thường theo Thông tư số 32/2018/TT-BNNPTNT ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn hiện còn nhiều vướng mắc nên Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B trả lời là không thể định giá được nên không có cơ sở buộc bị cáo phải bồi thường.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho Ban quản lý dự án KfW10 huyện B 7,554m3 gỗ còn lại tại hiện trường hiện đang giao cho Uỷ ban nhân dân xã T quản lý, 15 tấm gỗ (0,356m3) đã thu tại nhà Hồ Viết Sinh hiện đang quản lý tại Hạt kiểm lâm huyện B. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 50.000 đồng của anh Phạm Văn Gan có được từ việc kéo gỗ cho bị cáo B.
Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là vì muốn có gỗ để làm nhà. Hơn nữa, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thuộc hộ nghèo của địa phương, sinh sống ở vùng kinh tế khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo là lao động chính trong gia đình, có cha là người có công với cách mạng. Tuy bị cáo phạm tội năm 2016 nhưng đã chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích, tại phiên tòa bị cáo đã xin tự nguyện bồi thường số tiền bị thiệt hại nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm i, s khoản 1, 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo được sớm trở về với gia đình. Bị cáo thuộc trường hợp được miễn nộp toàn bộ án phí sơ thẩm nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ cho bị cáo.
Ý kiến của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội đã gây ra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhất trí với nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật. Bị cáo nói lời sau cùng mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào khoảng tháng 6/2020, bị cáo Hồ Xuân B đã vào khu vực rừng đầu nguồn suối Gôn tại khoảnh 01, tiểu khu 845, thôn 01, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Nam trực tiếp khai thác trái phép một cây gỗ Xoan Đào nhóm VI, khối lượng 10,563 m3, thuộc rừng sản xuất là rừng tự nhiên do Ban quản lý dự án KfW10 huyện B, tỉnh Quảng Nam đang quản lý, bảo vệ (chủ rừng).
Đối chiếu và thẩm tra phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vật chứng thu giữ được, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập.
Như vậy, bản cáo trạng số 22/CT-VKS-BTM ngày 02 tháng 11 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Nam và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật.
Hội đồng xét xử sơ thẩm có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Hồ Xuân B đã phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” được quy định tại điểm b khoản 1 điều 232 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Rừng sản xuất là rừng tự nhiên giữ một vai trò rất quan trọng đối với hệ sinh thái môi trường và đời sống con người. Pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi khai thác rừng dưới mọi hình thức khi chưa được sự cấp phép của cơ quan có thẩm quyền. Bị cáo Hồ Xuân B là người trực tiếp phát hiện ra cây gỗ và tiến hành dùng cưa máy để đốn hạ. Sau đó mượn trâu và thuê trâu để kéo gỗ về nhà. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có gỗ để làm nhà nên đã tiến hành khai thác gỗ trái phép, hành vi của bị cáo không những thể hiện sự coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh tại địa phương mà còn xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về khai thác, bảo vệ rừng. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra thì mới có tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Bị cáo Hồ Xuân B không có tình tiết tăng nặng. Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo của địa phương, nhận thức pháp luật còn hạn chế, là lao động chính trong gia đình, cha bị cáo là bệnh binh nên Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt về hành vi vi phạm pháp luật.
Người bào chữa đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo là không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Bị cáo thuộc hộ nghèo, không có tài sản và không có thu nhập ổn định, là người đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Đối với ông Hồ Viết Sinh và anh Phạm Văn Gan là những người được bị cáo thuê để kéo gỗ về nhà. Ông Sinh và anh Gan đã vận chuyển số lượng gỗ không lớn, thuộc gỗ loài thực vật rừng thông thường (dưới 20m3). Ông Sinh và anh Gan chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này. Do đó, hành vi của ông Sinh và anh Gan không cấu thành tội phạm quy định tại điểm k khoản 1 Điều 232 BLHS 2015. Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã chuyển tài liệu cho Hạt kiểm lâm huyện B để xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền đối với ông Hồ Viết Sinh và anh Phạm Văn Gan là phù hợp.
Đối với anh Hồ Văn Vũ và anh Đinh Hữu Cường, khi cho bị cáo mượn cưa máy và trâu, anh Vũ và anh Cường không biết bị cáo dùng vào mục đích cưa xẻ gỗ và kéo gỗ trái phép nên không xem xét xử lý là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình điều tra xác định số gỗ bị thiệt hại là 14.325.000 đồng và nguyên đơn dân sự có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất bồi thường số tiền trên. Xét thấy, sự tự nguyện bồi thường thiệt hại của bị cáo là phù hợp với quy định tại các điều 584, 585, 587 và 589 của Bộ luật Dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện này.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra đã thu giữ 7,554m3 gỗ còn lại tại hiện trường hiện giao cho Ban quản lý dự án KfW10 huyện B và Uỷ ban nhân dân xã T quản lý; 15 tấm gỗ có khối lượng 0,356m3 thu giữ tại nhà ông Hồ Viết Sinh hiện đang quản lý tại Hạt kiểm lâm huyện B. Vì vậy, Hội đồng xét xử trả lại cho chủ quản lý hợp pháp là Ban quản lý dự án KfW10 huyện B, theo quy định tại điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Đối với số tiền 50.000 đồng của anh Phạm Văn Gan có được do việc kéo gỗ cho bị cáo cần được tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí: bị cáo Hồ Xuân B là người đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc diện hộ nghèo năm 2022 và có đơn xin miễn toàn bộ tiền án phí sơ thẩm nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bào chữa, bị cáo, nguyên đơn dân sự và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 232; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Hồ Xuân B phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
Xử phạt Hồ Xuân B 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày đi thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584, 585, 587 và 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015, công nhận sự tự nguyện bồi thường thiệt hại của bị cáo đối với nguyên đơn dân sự, cụ thể: bị cáo Hồ Xuân B có nghĩa vụ bồi thường cho Ban quản lý dự án KfW10 huyện B số tiền là 14.325.000 đồng (Mười B triệu, ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại cho Ban quản lý dự án KfW10 huyện B, tỉnh Quảng Nam số gỗ còn lại tại hiện trường là 7,554 m3 (hiện đang được Ban quản lý dự án KfW10 huyện B và Ủy ban nhân dân xã T, huyện B quản lý theo công văn số 108/HKL-TTPC ngày 15 tháng 7 năm 2021 của Hạt kiểm lâm huyện B) và 15 tấm gỗ có khối lượng 0,356 m3 thu giữ tại nhà ông Hồ Viết Sinh (hiện đang được Hạt kiểm lâm huyện B quản lý theo quyết định số 01/QĐTGĐVTL-HKL ngày 29 tháng 7 năm 2021 của Hạt kiểm lâm huyện B). Tịch thu (truy thu) sung vào ngân sách nhà nước số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) của anh Phạm Văn Gan.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Hồ Xuân B.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 14/6/2022). Nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - VKSND tỉnh Quảng Nam; - VKSND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Nam; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Nam Nguyễn Thanh Tùng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thanh Hải Lê Thanh Hải |