vanban.org

Bản án 12/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị Đặng Thị Hồng Y và anh Nguyễn Đức C.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Đức Toàn, sinh ngày 28/12/2018 cho chị Đặng Thị Hồng Y là người được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên có sự thay đổi khác. Anh C được quyền đi lại thăm nom con chung mà không bị ai cản trở. Về cấp dư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị Đặng Thị Hồng Y và anh Nguyễn Đức C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÔNG C
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 7 -2022
V/v: Tranh chấp ly hôn và con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG C, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huệ và bà Phạm Thị Diệu Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thị Thanh Lan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sông C, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông C, tỉnh Thái Nguyên: Ông Vũ Đại Dương- Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 7 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Sông C , tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm C khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 55/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2022 về việc: “Tranh chấp ly hôn và con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2022/QĐXX-ST ngày 05 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Hồng Y, sinh năm 1997, có mặt

Địa chỉ: Thôn L, xã M, huyện Sóc Sơn, Tp Hà Nội

Bị đơn: Anh Nguyễn Đức C, sinh năm 1998, vắng mặt

Địa chỉ: Xóm L, xã Tân Quang, Tp Sông C, Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Y trình bày:

Chị và anh Nguyễn Đức C kết hôn năm 2018 đăng ký tại UBND phường Bách Quang, thành phố Sông C, Thái Nguyên. Chị và anh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống vợ chồng chị hạnh phúc được thời gian đầu. Sau đó nảy sinh mâu thuẫn bất đồng quan điểm do anh C chơi bời, không quan tâm đến vợ con. Trong cuộc sống vợ chồng còn xảy ra bạo lực gia đình, chị chịu đựng rất nhiều và cũng cho anh C thời gian thay đổi nhưng anh C đến nay vẫn không thay đổi, chị và con chung bỏ về nhà mẹ đẻ chị tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội sinh sống từ cuối năm 2020 và sống ly thân với anh C từ đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh C để chị ổn định cuộc sống.

- Về con chung vợ chồng chị có 01 con chung Nguyễn Đức Toàn, sinh ngày 28/12/2018. Khi ly hôn chị có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về án phí: Chị tự nguyện nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

*Ý kiến của bị đơn anh C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Y chung sống với nhau từ năm 2017 đến năm 2018 mới đi đăng ký kết hôn tại UBND phường Bách Quang, thành phố Sông C, Thái Nguyên, anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống chị Y bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở Sóc Sơn, Hà Nội sống, vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay chị Y có đơn xin ly hôn anh cũng nhất trí ly hôn.

- Về con chung vợ anh khai chồng anh có 02 con chung Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, sinh ngày 06/11/2017; Nguyễn Đức Toàn, sinh ngày 28/12/2018. Khi ly hôn anh có nguyện vọng nuôi hai con chung. Con chung Nguyễn Thị Quỳnh Hoa có trước khi vợ chồng anh đăng ký kết hôn. Anh đề nghị Tòa án đi giám định ADN để chứng minh cháu Hoa là con của anh, mọi chi phí cho việc giám định ADN anh tự nguyện chịu.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh không yêu cầu chị Y cấp dưỡng nuôi con chung

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án ra Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ số 18 ngày 01/6/2022 yêu cầu anh C cung cấp cho Tòa án bản sao giấy khai sinh của cháu Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, sinh ngày 06/11/2017; Đơn đề nghị đi giám định ADN để Tòa án có căn cứ giải quyết vụ án. Đến nay đã quá thời gian yêu cầu anh C không có đơn, tài liệu chứng cứ nộp cho Tòa án. Tòa án triệu tập cho anh C, anh C nhận nhưng không đến Tòa án để giải quyết vụ án do vậy vụ án phải đưa ra xét xử C khai ngày hôm nay.

* Tài liệu nguyên đơn xuất trình cho Tòa án gồm: 01 giấy chứng nhận kết hôn; bản sao giấy CMND của anh C; Bản sao giấy CCCD của chị Y; Bản sao giấy khai sinh của con chung Nguyễn Đức Toàn, sinh ngày 28/12/2018; Bản sao sổ hộ khẩu gia đình mang tên bà Ngô Thị Gấm là mẹ đẻ của chị Y; Bản sao sổ hộ khẩu gia đình mang tên ông Nguyễn Văn TuY là bố đẻ của anh C; Hợp đồng lao động giữa chị Y và C ty TNHH Semiopt VN; sao kê tài khoản ngân hàng liên quan đến thu nhập lương của chị Y.

* Tòa án đi xác minh tại C an xã Tân Quang về nơi cư trú của anh Nguyễn Đức C xác định: Anh Nguyễn Đức C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm L, xã Tân Quang, thành phố Sông C, Thái Nguyên. Số hồ sơ 05527-001582 chủ hộ là anh Nguyễn Đức C, hiện tại anh C vẫn sinh sống tại xã Tân Quang chưa chuyển khẩu đi đâu.

Tại phiên Toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông C phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án: Thẩm phán đã xác định đúng thẩm quyền và quan hệ tranh chấp, cho đương sự viết bản tự khai, mở phiên hòa giải, kiểm tra việc giao nộp tiếp cận C khai chứng cứ, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

* Về quan điểm giải quyết vụ án :

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y, cho chị Y được ly hôn với anh C.

- Về con chung: đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu của anh C về con chung Nguyễn Thị Quỳnh Hoa.Giao con chung là cháu Nguyễn Đức Toàn sinh năm 2018 cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Y không yêu cầu cấp dưỡng. Đối với cháu Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, anh C không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cháu Hoa là con chung của hai vợ chồng nên không có căn cứ để giải quyết

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết

- Về án phí : Chị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Đức C có hộ khẩu thường trú tại Xóm L, xã Tân Quang, thành phố Sông C, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Sông C, tỉnh Thái Nguyên.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn anh Nguyễn Đức C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh C.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Hồng Y và anh Nguyễn Đức C kết hôn năm năm 2018 đăng ký tại UBND phường Bách Quang, thành phố Sông C, Thái Nguyên được pháp luật C nhận là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2020 đến nay. Nay chị Y xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án cho chị ly hôn với anh C để ổn định cuộc sống, anh C nhất trí ly hôn do đó ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị Đặng Thị Hồng Y và anh Nguyễn Đức C.

- Về con chung: Chị Đặng Thị Hồng Y xác định quá trình chung sống chị và anh C có 01 con chung là Nguyễn Đức Toàn, sinh ngày 28/12/2018. Anh C khai có hai con chung là Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, sinh ngày 06/11/2017; Nguyễn Đức Toàn, sinh ngày 28/12/2018, nhưng anh C không có tài liệu, chứng cứ chứng minh cháu Nguyễn Thị Quỳnh Hoa là con chung của anh và chị Y. Do vậy Hội đồng xét xử không có căn cứ để giải quyết yêu cầu của anh về con chung đối với cháu Nguyễn Thị Quỳnh Hoa. Căn cứ vào điều kiện thu nhập thực tế của chị Y, để đảm bảo sự phát triển toàn diện của con chung, cần giao cháu Nguyễn Đức Toàn, sinh ngày 28/12/2018 cho chị Đặng Thị Hồng Y là người được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Y không có yêu cầu do đó tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh C cho đến khi chị Y có yêu cầu.

Anh C có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên đương sự xác định không có, không yêu Tòa án giải quyết.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí, quyền kháng cáo: Chị Đặng Thị Hồng Y phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. Chị Y, anh C có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228; 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị Đặng Thị Hồng Y và anh Nguyễn Đức C.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Đức Toàn, sinh ngày 28/12/2018 cho chị Đặng Thị Hồng Y là người được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên có sự thay đổi khác. Anh C được quyền đi lại thăm nom con chung mà không bị ai cản trở.

3.Về cấp dưỡng nuôi con chung: tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh C cho đến khi chị Y có yêu cầu.

4.Về tài sản chung, nợ chung: Chị Y và anh C đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5.Về án phí: Chị Đặng Thị Hồng Y phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai thu số 0001605 ngày 23/5/2022 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Sông C Thái Nguyên.

6. Quyền kháng cáo: Chị Y có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ