- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B đối với ông C. Xử cho bà B được ly hôn với ông C.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2022/HNGĐ-ST Ngày: 12-4-2022 V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Hồng Chi
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Văn Vĩnh
2. Bà Ngô Như Ý
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Nhiều, Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ Tiên, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 13/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2022 về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2022/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà B, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số 103, D, Khóm 10, Phường E, Thành phố G, tỉnh Bạc Liêu (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông C, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp H, xã I, huyện A, tỉnh Bạc Liêu (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 01 năm 2022, bản tự khai ngày 11 tháng 02 năm 2022 và Biên bản lấy lời khai ngày 11 tháng 02 năm 2022, nguyên đơn, bà B, trình bày: Vào năm 2007, bà B và ông C tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương; đến năm 2009, bà B và ông C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện A, tỉnh Bạc Liêu và được Ủy ban nhân dân xã I, huyện A, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 149, quyển số 01, ngày 19 tháng 11 năm 2000.
Quá trình chung sống, bà B và ông C không có con chung, không có tài sản chung và không vay, mượn tiền, tài sản của bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức tín dụng hoặc Ngân hàng nào nên không có nợ chung.
Do trong thời gian chung sống, tính tình không hòa hợp, quan điểm sống khác nhau, giữa bà B và ông C thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cải vả, xích mích với nhau; ông C thường xuyên uống rượu, cờ bạc; thậm chí ông C còn có các hành động bạo lực gia đình với bà B dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên bà B và ông C đã tự chấm dứt quan hệ chung sống với nhau và sống ly thân với nhau từ khoảng tháng 02 năm 2019 cho đến nay. Bà B đã về nhà em trai sinh sống ở địa chỉ Số 103, D, Khóm 10, Phường E, Thành phố G, tỉnh Bạc Liêu; còn ông C đang sống chung với cha mẹ của ông C tại địa chỉ: Ấp H, xã I, huyện A, tỉnh Bạc Liêu. Trong thời gian sống ly thân, bà B không liên lạc và cũng không có gặp gỡ trực tiếp với ông C để giải quyết mâu thuẫn nên bà B và ông C không có biện pháp gì hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Nay bà B yêu cầu được ly hôn với ông C. Khi ly hôn, do bà B xác định không có con chung, tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với ý kiến, trình bày của bị đơn, ông C: Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Bạc Liêu đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập ông C đến Tòa án, nhưng ông C không thực hiện việc gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà B cũng như cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án cho Tòa án và cũng không đến Tòa án làm việc nên không thể ghi nhận ý kiến, yêu cầu của ông C đối với yêu cầu khởi kiện của bà B. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Bạc Liêu căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do bà B cung cấp và do Tòa án thu thập được để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 57 Luật Hôn nhân và Gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B đối với ông C, cho bà B và ông C ly hôn; con chung, tài sản chung và nợ chung không có và không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Bà B phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Bà B yêu cầu ly hôn với ông C và hiện nay ông Lâm cư trú tại ấp H, xã I, huyện A, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân huyện A thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Ông C đã được triệu tập hợp lệ hai lần để hòa giải nhưng đều vắng mặt không rõ lý do nên vụ án không tiến hành hòa giải được, phải đưa ra xét xử. Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Bạc Liêu đã triệu tập ông C hợp lệ lần thứ hai, nhưng tại phiên tòa hôm nay ông C vẫn vắng mặt không rõ lý do và bà B có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà B và ông C.
Về hôn nhân: Bà B và ông C tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2007, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã I, huyện A, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 149, quyển số 01 ngày 19 tháng 11 năm 2009 nên hôn nhân giữa bà B và ông C là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Bà B yêu cầu được ly hôn với ông C với lý do trong quá trình chung sống tính tình không hòa hợp, quan điểm sống khác nhau, giữa bà B và ông C thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cải vả, xích mích với nhau; ông C thường xuyên uống rượu, cờ bạc; thậm chí ông C còn có các hành động bạo lực gia đình với bà B dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, không còn tình cảm với nhau, bà B và ông C đã ly thân với nhau từ khoảng tháng 02 năm 2019 cho đến nay. Trong quá trình sống ly thân, bà B và ông C không có cách nào để hàn gắn quan hệ vợ chồng. Tại Biên bản xác minh ngày 02 tháng 3 năm 2022, ông K, Trưởng ấp H, xã I, huyện A, tỉnh Bạc Liêu xác định, bà B và ông C đã sống ly thân khoảng 02 năm nay, bà B đã chuyển hộ khẩu đi nơi khác sinh sống. Từ những chứng cứ trên cho thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà B và ông C đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, đã không còn hạnh phúc, đời sống chung đã không thể hàn gắn được, khả năng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B đối với ông C, xử cho bà B được ly hôn với ông C.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà B xác định bà B và ông C chung sống không có con chung, không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Ông C không thể hiện có tranh chấp và yêu cầu giải quyết về vấn đề con chung, tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, bà B phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình. Bà B đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000815 ngày 21 tháng 01 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Bạc Liêu, được chuyển thu án phí.
Các quan điểm đề xuất việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh Bạc Liêu tại phiên tòa, như đã phân tích, là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội và tiểu mục 1.1 Phần II Mục A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016).
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B đối với ông C. Xử cho bà B được ly hôn với ông C.
2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
3. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, bà B phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình. Bà B đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000815 ngày 21 tháng 01 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.
4. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện A; - Chi Cục THADS huyện A; - UBND xã I, huyện A, tỉnh Bạc Liêu; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Dương Hồng Chi |