vanban.org

Bản án 12/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật tố tụng dân sự;

quy định về án phí, lệ phí Toà án; Hải. Chị Nguyễn Thị Thanh Hải được ly hôn với anh Nguyễn Mậu Thắng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hải"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 12/2022/HNGĐ-ST
Ngày 16 - 3 - 2022
V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Lưu và bà Dương Thị Ngần.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Lụa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Du.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 16/3/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; xét xử sơ thẩm công khai vụ thụ lý số: 36/2021/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2021, về việc ''Tranh chấp hôn nhân và gia đình'', theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/01/2022; theo Quyết định hoãn phiên toà số: 10/2022/QĐST-HNGĐ ngày 21/02/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh Hải, sinh năm 1982 (Có mặt);

Địa chỉ: Thôn Đại Sơn, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Anh Nguyễn Mậu Thắng, sinh năm 1979 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn Dương Húc, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh Hải trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Mậu Thắng, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn Dương Húc, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi kết hôn vợ chồng chị có được tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh vào ngày 24 tháng 10 năm 2003. Sau ngày cưới, vợ chồng chị sinh sống tại thôn Đại Sơn, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Trong quá trình chung sống được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyễn nhân là do vợ chồng tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Mặt khác, anh Thắng chơi cờ bạc nợ nần ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, không chịu làm ăn, sống không có trách nhiệm với gia đình. Chị đã khuyên bảo anh Thắng nhiều lần từ bỏ cờ bạc để lo cho gia đình nhưng anh Thắng không thay đổi. Vì vậy, chị đã nhiều lần nộp đơn ly hôn vào các năm 2014, 2018, 2020. Do lúc đó các con chị còn nhỏ nên chị vẫn cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên đến nay cuộc sống của vợ chồng chị quá bế tắc, không thể hoà hợp được. Gia đình 2 bên cũng nhiều lần hòa giải cho vợ chồng nhưng không được. Vợ chồng đã ly thân, cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, việc của ai người đó làm từ tháng 01 năm 2021 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Mậu Thắng.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Sinh Hùng, sinh ngày 25/8/2004; Nguyễn Ngọc Nhi, sinh ngày 08/01/2008. Hiện cả 02 con chung đang ở với chị và do chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cả 02 cháu. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị không đề nghị Tóa án giải quyết. Về chỗ ở: Từ khi kết hôn với anh Thắng chị và anh Thắng ở trên nhà và đất bố mẹ chị cho. Về thu nhập: Chị kinh doanh tự do thu nhập ổn định hàng tháng từ 10.000.000 đồng -15.000.000 đồng đủ nuôi 02 con chung.

Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ngoài ra chị không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Bị đơn anh Nguyễn Mậu Thắng vắng mặt tại phiên toà, lời khai có trong hồ sơ vụ án anh trình bày: Anh xác nhận lời trình bày của chị Nguyễn Thị Thanh Hải về thời điểm, điều kiện kết hôn như chị Nguyễn Thị Thanh Hải trình bày là đúng. Quá trình chung sống, anh thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn về mặt tình cảm là do chị Hải cho rằng anh không quan tâm đến gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên to tiếng với nhau. Do chán nản nên anh có chơi cờ bạc nợ nần ảnh hưởng đến kinh tế gia đình. Chị Hải cũng vài lần nộp đơn ly hôn nhưng cuối cùng vợ chồng anh vẫn bỏ qua cho nhau và tiếp tục chung sống với nhau. Vợ chồng anh ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm từ tháng 01/2021 cho đến nay chị ở xã Hoàn Sơn còn anh ở xã Đại Đồng. Nay anh vẫn mong muốn vợ chồng cùng suy nghĩ bỏ qua những lỗi lầm cho nhau để cùng nuôi dạy con chung nên anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Sinh Hùng, sinh ngày 25/8/2004; Nguyễn Ngọc Nhi, sinh ngày 08/01/2008. Hiện 02 con chung đang ở với chị Hải và do chị Hải trực tiếp nuôi dưỡng. Trường hợp phải ly hôn anh không muốn phải tách các con ra mà anh hoặc chị Hải sẽ nuôi cả 02 con chung. Anh có nguyện vọng xin nuôi cả 02 con chung. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con anh không đề nghị Tóa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật, bị đơn vắng mặt tại Toà án chưa chấp hành đúng, đầy đủ pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ Nghị Quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Đề nghị Toà án:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh Hải, xử cho chị Nguyễn Thị Thanh Hải được ly hôn với anh Nguyễn Mậu Thắng.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Sinh Hùng, sinh ngày 25/8/2004; Nguyễn Ngọc Nhi, sinh ngày 08/01/2008. Khi ly hôn giao 02 con chung cho chị Nguyễn Thị Thanh Hải trực tiếp nuôi dưỡng; vấn đề cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh Hải phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thanh Hải có đơn xin ly hôn, theo đúng mẫu và nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định. Anh Nguyễn Mậu Thắng có địa chỉ tại thôn Dương Húc, xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Tiên Du thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

Anh Nguyễn Mậu Thắng đã được Toà án thông báo thụ lý vụ án, tống đặt văn bản tố tụng và có ý kiến trong hồ sơ nhưng anh Nguyễn Mậu Thắng vắng mặt tại phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải và tại phiên toà, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Mậu Thắng theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị Thanh Hải và anh Nguyễn Mậu Thắng kết hôn vào ngày 24/10/2003 trên cơ sở được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Khi kết hôn anh chị đủ điều kiện và tuân thủ đúng quy định pháp luật. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thanh Hải và anh Nguyễn Mậu Thắng là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, chị Hải cho rằng vợ chồng sống không hoà thuận đã phát sinh mâu thuẫn, nguyễn nhân là do vợ chồng tính cách không hợp nhau, không cùng quan điểm sống. Mặt khác, anh Thắng chơi cờ bạc nợ nần ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, không chịu làm ăn, sống không trách nhiệm với gia đình, chị đã khuyên anh thay đổi nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn vợ chồng hai bên gia đình có biết, có khuyện giải cho vợ chồng nhưng không được. Chị đã làm đơn ly hôn vào các năm 2014, 2018, 2020 nhưng sau đó rút đơn cho anh Thắng cơ hội sửa sai. Vợ chồng ly thân nhau nhiều lần, lần gần đây nhất là từ tháng 01/2021 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Mậu Thắng. Còn anh Nguyễn Mậu Thắng cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do chị Hải cho rằng anh không quan tâm đến gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên to tiếng với nhau. Do chán nản nên anh có chơi cờ bạc nợ nần ảnh hưởng đến kinh tế gia đình. Nay chị Hải xin ly hôn thì anh vẫn mong muốn vợ chồng cùng suy nghĩ bỏ qua những lỗi lầm cho nhau để cùng nuôi dạy con cái nên anh không đồng ý. Tại phiên toà, chị Nguyễn Thị Thanh Hải không đồng ý quay về đoàn tụ gia đình và kiên quyết xin ly hôn. Qua xác minh tại gia đình anh Thắng, mẹ anh Thắng cung cấp vợ chồng anh chị có mâu thuẫn nguyên nhân là do anh Thắng cờ bạc nợ nần ảnh hưởng tới gia đình, dẫn tới vợ chồng ly thân. Hội đồng xét xử xét thấy anh Nguyễn Mậu Thắng không đồng ý ly hôn với chị Hải nhưng cũng không có biện pháp gì để vợ chồng đoàn tụ, mâu thuẫn vợ chồng là có thật, đến nay mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài được, hôn nhân chỉ tồn tại trên hình thức. Chị Nguyễn Thị Thanh Hải làm đơn xin ly hôn anh Nguyễn Mậu Thắng là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ phù hợp với Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh Hải.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Sinh Hùng, sinh ngày 25/8/2004; Nguyễn Ngọc Nhi, sinh ngày 08/01/2008. Ly hôn, chị Nguyễn Thị Thanh Hải xin nuôi cả 02 con chung. Anh Nguyễn Mậu Thắng cũng thừa nhận hiện 02 con chung đang ở với chị Hải và do chị Hải trực tiếp nuôi dưỡng. Trường hợp phải ly hôn anh Thắng không mong muốn phải tách các con ra mà anh hoặc chị Hải sẽ trực tiếp nuôi cả 02 con chung. Anh Thắng cũng có nguyện vọng nuôi cả 02 con chung. Xét việc giao con chung cho ai cần đảm bảo cho các cháu điều kiện tốt nhất và xét nguyện vọng của các cháu; Toà án đã tiến hành lấy lời khai nguyện vọng của các cháu Nguyễn Sinh Hùng và cháu Nguyễn Ngọc Nhi nếu bố mẹ các cháu ly hôn các cháu xin được ở với chị Hải. Hiện nay, chị Hải kinh doanh tự do, tuy nhiên có có đầy đủ điều kiện về thu nhập và chỗ ở nên HĐXX xét yêu cầu của chị Hải là hợp tình, đúng pháp luật nên cần giao các cháu Nguyễn Sinh Hùng và cháu Nguyễn Ngọc Nhi cho chị Hải trực tiếp nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh Hải phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 217, 227, 235, 262, 264, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị Quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh Hải. Chị Nguyễn Thị Thanh Hải được ly hôn với anh Nguyễn Mậu Thắng.

Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Sinh Hùng, sinh ngày 25/8/2004 và cháu Nguyễn Ngọc Nhi, sinh ngày 08/01/2008 cho chị Nguyễn Thị Thanh Hải trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn. Người trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn.

Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh Hải phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (Xác nhận chị Nguyễn Thị Thanh Hải đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai số AA/2021/0001864 ngày 24/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Du).

Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ