- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "VŨ THỊ QUỲNH + BÙI VĂN HÒA"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Vũ Thị Q và anh Bùi Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2022/HNGĐ-ST Ngày: 24-01-2022 V/v: “Ly hôn giữa chị Q và anh H”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Ái.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi.
Ông Đỗ Việt Hùng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Ngày 24 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 201/2021/TLST-HNGĐ ngày 07/12/2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/01/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Q, sinh năm 1999; địa chỉ: Xóm 11, xã Hải Sơn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định;
Bị đơn: Anh Bùi Văn H, sinh năm 1994; địa chỉ: Xóm 17, xã H.Q, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; hiện ở: Tổ 5, khu phố Hải Bình, thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Chị Q, anh H đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Vũ Thị Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Q và anh Bùi Văn H tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H.Q, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định vào ngày 23/3/2020. Sau khi kết hôn, hai người cùng vào tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu làm ăn nhưng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra cãi vã. Nguyên nhân là do kinh kế khó khăn, bất đồng quan điểm. Tháng 8 năm 2020 vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nên tháng 9 năm 2020 chị Q đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở xóm 11, xã Hải Sơn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định sinh sống từ đó đến nay, còn anh H vẫn sinh sống tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, hai người sống ly thân từ đó, không quan tâm đến nhau. Nay chị Q xác định không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị được ly hôn anh Bùi Văn H.
Về con chung: Chị Q và anh H không có con chung, hiện nay chị Q không có thai nghén gì.
Về tài sản chung: Không có nên chị Q không đề nghị giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 23/12/2021, bị đơn anh Bùi Văn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn H và chị Vũ Thị Q có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H.Q, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định vào ngày 23/3/2020 trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi cưới, anh H và chị Q chung sống ở tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do kinh tế khó khăn, bất đồng quan điểm. Tháng 9 năm 2020, chị Q đã về nhà mẹ đẻ ở xã Hải Sơn, huyện Hải Hậu sinh sống, còn anh H hiện vẫn đang sinh sống tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, hai người không còn quan tâm đến nhau. Nay anh H xác định không còn cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Vũ Thị Q xin ly hôn, anh H nhất trí.
Về con chung: Anh H và chị Q không có con chung.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung nên anh H không đề nghị giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị Q và anh Bùi Văn H là hợp pháp vì được xác lập trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H.Q, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 23/3/2020. Quá trình chung sống giữa chị Q và anh H không hạnh phúc, thường xảy ra cãi vã, nguyên nhân do kinh tế khó khăn, bất đồng quan điểm. Hai người đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau từ tháng 9 năm 2020. Hiện chị Q sinh sống ở xã Hải Sơn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; anh H sinh sống ở khu phố Hải Bình, thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Nay chị Q xin ly hôn, anh H nhất trí ly hôn.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị Q thấy: Do tính tình không hợp nhau nên trong quá trình chung sống giữa chị và anh Bùi Văn H thường xảy ra mâu thuẫn, hai người đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau; cả chị Q và anh H đều không có biện pháp hóa giải mâu thuẫn để vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến nay cả chị Q và anh H đều xác định không còn tình cảm với nhau, không còn cơ hội hàn gắn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Vũ Thị Q đối với anh Bùi Văn H là phù hợp.
Về con chung: Các đương sự không có con chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn chị Vũ Thị Q phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Vũ Thị Q và anh Bùi Văn H.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Vũ Thị Q phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0006017 ngày 07/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Chị Q đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Vũ Thị Q, bị đơn anh Bùi Văn H có quyền kháng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND + VKSND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Hải Hậu; - Chi cục THADS huyện Hải Hậu; - UBND xã H.Q; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Ái |