vanban.org

Bản án 12/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị D đối với ông Nguyễn Văn T về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị D được ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo Trâm, sinh ngày 30/9/2016 cho bà Dương Thị D trực tiếp nuôi duỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông T không phải cấp dưỡn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị N xin ly hôn vơi ông Phạm Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị D đối với ông Nguyễn Văn T về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 31-3-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh

Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hạnh

Ông Bùi Huy Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Mỹ Hạnh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Bích, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 03 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 281/2021/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2021 về “Ly hôn, Tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2022, quyết định hoãn phiên tòa số 07/2022/QĐST- HNGĐ ngày 11 tháng 03 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Dương Thị D, sinh năm 1989

HKTT: Tổ A, thôn Hữu Phuớc, xã Suối Nghệ, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

Địa chỉ hiện nay: Tổ 13, thôn Suối Nghệ, xã Suối Nghệ, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1992

Địa chỉ: Tổ B, thôn Sông Cầu, xã Nghĩa Thành, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

(Bà D có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI D VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Bà Dương Thị D và ông Nguyễn Văn T tự nguyện đến với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Suối Nghệ vào năm 2016. Thời gian đầu, hai vợ chồng sống với nhau hạnh phúc. Đến tháng 5 năm 2021 thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Do trong quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm, không thể nói chuyện, chia sẻ cùng nhau, cụ thể: ông T không có trách nhiệm với gia đình, không chăm sóc con cái, nhà cửa, thích chơi bời, không lo làm ăn để kiếm thu nhập để nuôi con và gia đình. Từ tháng 6/2021 bà và ông T sống ly thân. Tháng 7/2021 ông T đã về nhà cha mẹ tại Tổ B, thôn Sông Cầu, xã Nghĩa Thành, huyện Châu Đức để sinh sống cho đến nay. Trong thời gian này vợ chồng bà đã tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả gì.

Nay nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nên bà D yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn T để mỗi người ổn định cuộc sống riêng của mình.

Về con chung: Bà Duơng Thị D và ông Nguyễn Văn T có 01 người con chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo T, sinh ngày 30/9/2016; Bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi con trưởng thành. Trước đây bà có đơn yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đồng/tháng đến khi con trưởng thành. Từ trước đến nay, con cái đều do bà chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay, bà có có việc làm (làm công nhân cho Công ty), thu nhập (7.000.000đ/tháng) và có chổ ở ổn định để có thể chăm sóc, nuôi dưỡng con tốt. Còn ông T chăn nuôi bò, dê; thu nhập không ổn định. Nên bà thay đổi yêu cầu, bà không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và không gửi ý kiến cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết trong vụ án:

Về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật về nội D tranh chấp, thu thập chứng cứ đầy đủ và xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng nguyên tắc xét xử trong phiên tòa sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt, vi phạm quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của bà D, Tòa án đã triệu tập ông T để làm việc, hòa giải hôn nhân nhưng ông T không đến Tòa làm việc. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà D và ông T ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Dương Thị D. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con trưởng thành. Bà D không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con nên ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, Tòa án nhận định như sau:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung; nơi cư trú hiện nay của ông Nguyễn Văn T là tại xã Nghĩa Thành, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Dương Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2 Về nội D:

Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông T tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Suối Nghệ, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 42/2016, ngày 26/4/2016. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông T là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, bà D và ông T phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng luôn trong tình trạng căng thẳng nên bà D và ông T đã ly thân từ tháng 6/2021 cho đến nay. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của bà D, Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Văn T để làm việc nhưng ông T vẫn không đến Tòa làm việc, điều này chứng tỏ ông T không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tòa án đã tiến hành xác minh thực tế về tình trạng hôn nhân giữa bà D và ông T tại địa phương nơi ông T, bà D cùng cư trú tại xã Suối Nghệ, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. Kết quả xác minh cho thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Dương Thị D và ông Nguyễn Văn T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn và hiện nay, bà D và ông T sống ly thân. Từ tháng 7/2021 cho đến nay, ông T đã về nhà ba mẹ của ông T tại Tổ B, thôn Sông Cầu, xã Nghĩa Thành, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu sinh sống.

Nhận thấy, mâu thuẫn giữa bà Dương Thị D và ông Nguyễn Văn T ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Do đó, áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Dương Thị D.

2.2 Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà D và ông T có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo Trâm, sinh ngày 30/9/2016 (theo giấy khai sinh số 271 do UBND xã Suối Nghệ cấp ngày 20/10/2016) hiện nay đang ở với bà D tại Tổ 13, thôn Suối Nghệ, xã Suối Nghệ, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. Khi ly hôn, bà D có nguyện vọng được nuôi con chung đến khi con đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy: Bà D hiện nay có việc làm, thu nhập và có chỗ ở ổn định. Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo Trâm cho bà Dương Thị D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Do bà D không yêu cầu cấp dưỡng nên ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.3 Về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Bà Dương Thị D phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; 147, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị D đối với ông Nguyễn Văn T về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị D được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

- Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo Trâm, sinh ngày 30/9/2016 cho bà Dương Thị D trực tiếp nuôi duỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Văn T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí sơ thẩm:

Bà Dương Thị D phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng số 0007536 ngày 01/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức. Như vậy, bà D đã nộp xong.

3. Trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án (31/3/2022) đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ