- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Dân sự sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị X.
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2022/DS-ST Ngày: 25-02-2022 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Vĩnh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tư.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tiểu Thơ, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 25 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai, theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 313/2021/TLST–DS ngày 20 tháng 12 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2022/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 01 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị X, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Mộng C, sinh năm 1988;
Địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Bà X có mặt, bà C vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 06/12/2021, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà X trình bày:
Bà Huỳnh Thị Mộng C có vay của bà nhiều lần với số tiền 100.000.000 đồng, và 20 chỉ vàng 24K. Đến ngày 20/10/2021 âm lịch, bà C đã trả cho bà được 23.000.000 đồng và 02 chỉ vàng 24K. Sau khi trả bà C có làm giấy còn nợ của bà 77.000.000 đồng và 18 chỉ vàng 24K. Sau khi làm giấy nợ, bà C đã hẹn trả nhiều lần nhưng không thực hiện. Do đó, bà khởi kiện nhưng do nhầm lẫn nên yêu cầu bà C trả cho bà 100.000.000 đồng và 20 chỉ vàng 24K. Nay bà rút lại yêu cầu đối với số tiền 23.000.000 đồng và 02 chỉ vàng 24K, bà chỉ yêu cầu bà C trả số tiền 77.000.000 đồng và 18 chỉ vàng 24K.
Tại bản tự khai ngày 05/01/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà C trình bày:
Bà thừa nhận có vay tiền và vàng của bà X theo giấy nợ ngày 20/10/2021 âm lịch, hiện còn nợ số tiền 77.000.000 đồng và 18 chỉ vàng 24K. nay bà đồng ý trả cho bà X số tiền77.000.000 đồng và 18 chỉ vàng 24K, nhưng xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng, cho đến khi hết nợ.
Bà X không đồng ý cho trả dần theo yêu cầu của bà C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ pháp luật: Đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Bà C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có mặt để dự phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà C theo quy định tại 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét bà X rút yêu cầu bà C trả số tiền 23.000.000 đồng và 02 chỉ vàng 24K, không yêu cầu Tòa án giải quyết là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu này của bà X.
Xét bà X yêu cầu bà C trả số tiền 77.000.000 đồng và 18 chỉ vàng 24K, thấy rằng:
Tại giấy có nội dung vay tiền, vàng ngày 20/10/2021 âm lịch, thể hiện bà C vay của bà X số tiền 77.000.000 đồng và 18 chỉ vàng 24K, được bà C thừa nhận viết và ký tên nên theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tình tiết không phải chứng minh.
Tuy nhiên, đến hạn trả nợ mà bà C không thực hiện là vi phạm hợp đồng, là có lỗi, vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay đối với bên cho vay theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị X.
Xét bà C đồng ý trả bà X số tiền 77.000.000 đồng và 18 chỉ vàng 24K, nhưng xin trả mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết số nợ là nhằm kéo dài thời gian trả nợ, gây thiệt thòi quyền lợi của bà X và không được bà X đồng ý nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Về án phí: Bà C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Lấy giá vàng tại thời điểm xét xử là 5.400.000 đồng/01 chỉ vàng 24K.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 463, 466 và 468 của Bộ luật dân sự; điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị X.
2. Buộc bà Huỳnh Thị Mộng C có nghĩa vụ trả cho bà Ngô Thị X số tiền 77.000.000 đồng (Bảy mươi bảy triệu đồng) và 18 (Mười tám) chỉ vàng 24K.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà X có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà C chậm thi hành thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị X đối với số tiền 23.000.000 đồng và 02 chỉ vàng 24K.
4. Về án phí: Bà Huỳnh Thị Mộng C phải chịu 8.710.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho bà Ngô Thị X 5.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu tiền số 0001537 ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
5. Bà X có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Bà C quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang - VKSND huyện Cai Lậy; - Chi cục THADS huyện Cai Lậy; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Vĩnh Đức |