- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015. - phạm tội tàng trữ trái phép ch…"
- Tòa quyết gì? Tuyên: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƢỜNG XUÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2021/HS-ST Ngày: 23/3/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƢỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Lê Sỹ Hỷ;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Ngọc.
2. Ông Lê Quang Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Tú – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa
tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Tú - Kiểm sát viên.
Vào ngày 23 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2021/TLST- HS ngày 01 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
1.Nguyễn Văn T - sinh năm 1992 tại xã XB, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa;Trú tại: Thôn QT, xã XB, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;Con ông Nguyễn Văn Đ(đã chết) và bà Lê Thị Đ, trú tại: Thôn Quyết Thắng 1, xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân,tỉnh Thanh Hóa);Có vợ là Nguyễn Thị Ng và 01 con, sinh năm 2019.
Tiền án; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2020 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa (Có mặt);
2.Ngƣời làm chứng: Nguyễn Văn Ch – sinh năm 1985, Trú tại: Thôn TL, xã VX, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 30 phút, ngày 02/12/2020 tại thôn Thác Làng, xã Vạn Xuân, huyện Thường Xuân tổ công tác Công an huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Công an xã Vạn Xuân bắt quả tang Nguyễn Văn T, sinh ngày 02/3/1992, trú tại thôn QT, xã XB, huyện TX đang tàng trữ 01 gói ni lông màu đen, bên trong bọc giấy có dòng kẻ chứa bột màu trắng ngà. Khi bị bắt, T khai chất bột màu trắng ngà là ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ 01 gói bên ngoài bọc lớp nilong màu đen, bên trong bọc giấy có dòng kẻ chứa bột màu trắng ngà, 01 điện thoại di động iphone 5, 01 xe mô tô Honda Vision, biển kiểm soát 36D1-54349.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng 17 giờ 21 phút ngày 02/12/2020 khi đang ở nhà, T đã dùng điện thoại iphone 5 có số là 0379275370 gọi đến số điện thoại 0964063682 của Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1985, trú tại thôn TL, xã VX, huyện TX hỏi “Anh Ch ơi, còn hàng không, để cho em năm trăm”, Ch trả lời “có lên mà lấy”, ngoài ra Ch còn dặn khi nào đến cầu Thác Làng thì gọi trước. Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô Honda Vision, biển kiểm soát 36D1-54349 từ nhà đi lên thôn Thác Làng, khi đi qua nhà Nguyễn Văn Ch đến cầu thôn Thác Làng là khoảng 18 giờ cùng ngày, T lấy điện thoại ra gọi và nói với Ch “em đến rồi, anh ra đi”, Ch nói “chờ tí”. Khoảng 5 phút sau thì Nguyễn Văn Ch đi xe mô tô Vision màu đỏ, biển kiểm soát 36M1-17681 đến gặp và đưa cho Nguyễn Văn T 01 gói ni lông màu đen, bên trong bọc giấy có dòng kẻ chứa bột màu trắng ngà là ma túy loại heroine, rồi nhận từ T 450.000đ. Mua được ma túy, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô quay về nhà, khi đi đến gần chùa Cửa Đặt, thì bị Công an huyện Thường Xuân phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật.
Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 143/CSĐT ngày 03/12/2020 đối với 01 gói bột màu trắng ngà (thu của T) nghi là ma túy. Tại Kết luận giám định số 3153/PC09 ngày 07/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tinh Thanh Hóa kết luận chất bột màu trắng ngà của phong bì niêm phong gửi đi giám định là ma túy, có khối lượng 0,264g loại Heroine.
Cơ quan điều tra ban hành Lệnh thu giữ điện tín số 08/CSĐT ngày 09/12/2020 yêu cầu tập đoàn công nghiệp viễn thông quân đội Viettel cung cấp thông tin chủ thuê bao và bảng kê chi tiết cuộc gọi đi, gọi đến, tin nhắn của hai số điện thoại 0379275370, 0964063682. Tại Công văn số 107 ngày 23/12/2020 của Tập đoàn công nghiệp viễn thông quân đội trả lời, cho thấy từ 16 giờ 03 phút ngày 02/12/2020 đến 18 giờ 26 phút ngày 02/12/2020 có 4 cuộc gọi phát sinh giữa hai số điện thoại nêu trên.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T còn khai nhận ngày 01/12/2020 cũng đi xe mô tô đến thôn Thác Làng, xã Vạn Xuân gặp và mua 01 gói ma túy của Nguyễn Văn Ch với giá 450.000đ về sử dụng. Tuy nhiên, do ma túy T đã sử dụng hết không xác định được trọng lượng nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với Nguyễn Văn Ch bán ma túy là Hêroin cho Nguyễn Văn T, cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố điều tra ở một vụ án khác.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 xe mô tô Honda Vision, biển kiểm soát 36D1-54349 xác định là tài sản riêng của chị Nguyễn Thị Ng, chị Ng không biết Nguyễn Văn T lấy xe để đi mua ma túy, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Ng; 01 điện thoại di động iphone 5 màu đen trắng, lắp số sim 0379275370, 01 (một) phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành chứa: 0,240g Heroine còn lại sau giám định tiếp tục thu giữ, quản lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKSTX ngày 29 tháng 01 năm 2021, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1,5 Điều 249 BLHS 2015
Tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;Áp dụng: điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 BLHS 2015. Xử phạt bị cáo từ 18 đến 21 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/12/2020; Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy số vật chứng là ma túy thu giữ được, 01 sim điện thoại di động số 0379275370. Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 5 và buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX vào phòng nghị án:
Bị cáo rất hối hận về hành vi của bản thân, đề nghị HĐXX xem xét, cân nhắc cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật, xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp để bị cáo có cơ hội sữa chữa lỗi lầm của bản thân, sớm trở về đoàn tụ với gia đình.
Căn cứ vào các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân.
Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về số ma túy thu giữ được trong quá trình bắt quả tang là 0,264g (Không phẩy hai sáu tư gam) Heroine; căn cứ vào các tài liệu thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015. Quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước; làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo ý thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe và đời sống xã hội cũng như sự ngăn cấm của pháp luật nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu của bản thân; bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm để đảm bảo răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Văn T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Tình tiết tăng nặng TNHS: Không.
Tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị cáo luôn có thái độ thành khẩn khai báo. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 BLHS để bị cáo thấy rõ sự khoan hồng của pháp luật.
Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân thực hành quyền công tố tại phiên tòa áp dụng đối với bị cáo:Về tội danh, điều luật áp dụng,mức hình phạt, án phí và xử lý vật chứng mà đại diện Viện kiểm sát đã có ý kiến đề nghị. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, dó đó đề nghị của đại diện Viện kiểm sát được HĐXX chấp nhận.
Về hình phạt : Từ những căn cứ nêu trên, cần áp dụng quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS 2015; xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, để bị cáo tích cực cải tạo, rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội.
Xét điều kiện kinh tế của bị cáo thì thấy: bản thân bị cáo là con nghiện không có công việc ổn định, thu nhập không có, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên không có khả năng thi hành án. Vì vậy không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
+ 01 Phong bì niêm phong hoàn mẫu giám định bên trong chứa 0,240g(Không phẩy hai bốn mươi gam) Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 sim điện thoại di động số 0379275370. Đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vật không có giá trị sử dụng. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 47 BLHS 2015; điểm a,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015 tuyên tịch thu tiêu hủy;
+ 01 điện thoại di động iphone 5 màu đen trắng đã qua sử dụng, bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS 2015; điểm a, khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015 tuyên tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước;
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51;Điều 38 BLHS 2015;
1. Tuyên: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 18(Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/12/2020. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a,c khoản 1, Điều 47 BLHS 2015; điểm a,c khoản 2, Điều 106 BLTTHS 2015. Tuyên:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì dán kín, niêm phong do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành bên trong có chứa 0,240g Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 sim điện thoại di động số 0379275370.
+ Tịch thu phát mãi sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động iphone 5 màu đen trắng.
Toàn bộ số vật chứng này có đặc điểm thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 05/3/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thường Xuân và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thường Xuân.
4. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Thường Xuân; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - Cơ quan CSĐT- CA huyện Thường Xuân; - Cơ quan THAHS- CA huyện Thường Xuân; - Trại tạm giam - CA tỉnh Thanh Hóa; - Lưu HSVA | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Sỹ Hỷ |