- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2021/HSST Ngày 26 - 4 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Khương Đặng Khánh Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Mạnh Tuấn và bà Nguyễn Thị Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên tòa: Ông Dương Mạnh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2021 tại Hội trường Uỷ ban nhân dân xã Tân Lập, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2021/HSST ngày 31/3/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2021/QĐXXST - HS ngày 14/4/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh ngày 16 tháng 8 năm 1982; nơi cư trú: thôn S, xã H, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh, giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1940; vợ: Hoàng Thị H, sinh năm 1989; con: có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2021, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo H: Bà Kim Hồng T, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do nghiện chất ma túy từ năm 2017 nên khoảng 13 giờ ngày 01/01/2021, Nguyễn Văn H ở thôn S, xã H, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ một mình điều khiển xe mô tô đến khu vực đường đôi thị trấn L, huyện Lập Thạch gặp mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy loại heroine giá 400.000đ cất giấu vào tất chân bên trái đem về mục đích sử dụng. Khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, H đem theo gói ma túy về đến thôn H, xã N, huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc thì bị lực lượng Công an huyện Sông Lô kiểm tra, phát hiện gói ma túy và lập biên bản phạm tội quả tang.
Tại Kết luận giám định số 52 ngày 05/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Chất cục, bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1605g, loại heroine”. Hoàn lại 0,1551g cùng toàn bộ bao gói.
Vật chứng vụ án thu giữ: 0,1605g ma túy, loại heroine. 01 chiếc xe mô tô BKS: 19H7-3473 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel xác định là của Nguyễn Văn H, không liên quan đến hành vi phạm tội.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho H tại thị trấn L, do H không biết rõ tên tuổi, địa chỉ và không nhận dạng được nên không có cơ sở điều tra làm rõ.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 16/CT - VKS ngày 30/3/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô luận tội đối với bị cáo Nguyễn Văn H giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo H. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo H. Xử phạt bị cáo Hào từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt tạm giữ, tạm giam ngày 01/01/2021. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn H hiện đang thuộc đối tượng là cá nhân thuộc hộ nghèo theo quy định tại Điều 7 Luật trợ giúp pháp lý và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự nên các cơ quan tiến hành tố tụng đã chỉ định người bào chữa cho bị cáo. Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo là bà Kim Hồng T trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và gửi bản bào chữa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H. Bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa tại phiên tòa. Căn cứ Điều 291 của Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.
Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình và ăn năn hối hận. Bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại điện viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được sai phạm về hành vi đã thực hiện và xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Sông Lô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; kết luận giám định, vật chứng thu giữ được cùng với các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung cáo trạng đã được đại diện Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do là người nghiện chất ma túy, để có ma túy sử dụng nên khoảng 13 giờ ngày 01/01/2021, Nguyễn Văn H đến khu vực đường đôi thuộc thị trấn L, huyện Lập Thạch mua 01 gói ma túy loại heroine có trọng lượng 0,1605 gam cất giấu tại tất chân bên trái mục đích đem về một mình sử dụng. H tàng trữ gói ma túy về đến thôn H, xã N, huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc thì bị Công an huyện Sông Lô phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan.
Hội đồng xét xử khẳng định: Hành vi của Nguyễn Văn H nêu trên đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều luật quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán… thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...
…c) Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được những ảnh hưởng xấu của ma túy đến sức khỏe của bản thân và cộng đồng xã hội nhưng bản thân là người nghiện ma túy đã lâu nên đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo không những gây mất trật tự trị an xã hội mà còn làm tệ nạn ma túy ngày càng lan rộng và phát triển mạnh hơn trong đời sống. Từ tệ nạn ma túy là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H là người có nhân thân tốt. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng được tặng huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo H là người nghiện ma túy, không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với 0,1551gam ma túy do cơ quan giám định hoàn lại cùng toàn bộ bao gói là chất nhà nước cấm tàng trữ, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc xe mô tô BKS: 19H7-3473 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel xác định là tài sản của Nguyễn Văn H, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần xem xét trả lại cho H.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho H tại thị trấn L, do H không biết rõ tên tuổi, địa chỉ và không nhận dạng được nên không có cơ sở điều tra làm rõ.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01/01/2021).
2. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 0,1551gam ma túy cùng toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn lại sau giám định.
Trả lại cho Nguyễn Văn H 01 chiếc xe mô tô BKS: 19H7-3473 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel.
(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Sông Lô và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Lô).
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Viện kiểm sátnhândânhuyện Sông Lô; -Viện kiểm sátnhân dântỉnhVĩnh Phúc; -Tòa ánnhân dân tỉnhVĩnhPhúc; - SởTưpháp tỉnhVĩnhPhúc; -Chi cụcThihành ándânsự huyện Sông Lô; -Công anhuyện Sông Lô; -Uỷ ban nhândân xã H,huyện Đoan Hùng,tỉnh Phú Thọ; -Bị cáo; - Lưu hồ sơ; Văn phòng. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Khương Đặng Khánh Hằng |