vanban.org

Bản án 12/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 16/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Ngô Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma t y”. Xử phạt bị cáo Ngô Minh T 12 (mư i hai) tháng tù, th i hạn ch p hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 28 tháng 12 năm 2020). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án xét xử bị cáo Ngô Minh T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ s…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG NINH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2021/HSST
Ngày: 16 - 6 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn,

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Xuân Hành,

2. Bà Văn Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Quyền, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2021, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2021/HSST ngày 08 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06a/2021/QĐXX-ST ngày 13 tháng 5 năm 2021, đối với: Bị cáo Ngô Minh T, sinh ngày 21 tháng 02 năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu thư ng tr và chỗ hiện nay: Thôn Q, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học v n: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Ngô Minh T và bà Lê Thị H, chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28 tháng 12 năm 2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Minh T, địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 gi 55 phút ngày 28 tháng 12 năm 2020, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma t y Công an huyện Quảng Ninh phối hợp với Công an xã H tuần tra trên địa bàn phát hiện Ngô Minh T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73G1-305.60 có d u hiệu nghi v n nên tổ công tác tiến hành kiểm tra. Khi kiểm tra trong ngư i Ngô Minh T, phát hiện t i quần đùi phía trước bên phải có 02 (hai) viên nén màu hồng, Ngô Minh T khai nhận đó là ma túy tổng hợp (dạng hồng phiến) do T mua của một ngư i không biết tên tại khu vực cống T, xã V về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang Ngô Minh T về hành vi “Tàng trữ trái phép ch t ma t y” và niêm phong số ma t y trên.

Quá trình bắt quả tang, Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Ninh còn tạm giữ từ Ngô Minh Tu n 01 điện thoại di động nhãn hiệu MOBELL màu xanh dương đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER màu xanh lá cây BKS 73G1-305.60 đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 41/GĐ-PC09 ngày 04/01/2021, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: 02 (hai) viên nén màu hồng là Methamphetamine có khối lượng 0,21 gam (không phẩy hai một gam) nằm trong danh mục các ch t ma t y, số thứ tự 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15-5-2018 của Chính phủ.

Ngày 22 tháng 01 năm 2021, Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Ninh đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô BKS 73G1-305.60 cho chủ s hữu là anh Ngô Minh T.

Tại Bản cáo trạng số 07/CT-VKS-MT ngày 07 tháng 4 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Ngô Minh T về tội “Tàng trữ trái phép ch t ma t y” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra, Ngô Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, đ ng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh giữ quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật phát biểu quan điểm, luận tội chứng minh bị cáo Ngô Minh T đã thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép ch t ma t y loại Methamphetamin, số lượng 02 viên, khối lượng 0,21 gam. Cáo trạng truy tố đ ng ngư i, đ ng tội, đ ng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Ngô Minh T mức án từ 12 đến 18 tháng tù; áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng sau khi giám định 0,136 gam ma túy loại Methamphetamine (ký hiệu A1); trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu MOBELL, đã qua sử dụng.

Bị cáo Ngô Minh T nh t trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và l i luận tội của Kiểm sát viên, hối hận về hành vi phạm tội của mình, tỏ thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sớm tr về hòa nhập cộng đồng, có điều kiện gi p đỡ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Ninh, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ngư i nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

L i khai của bị cáo thống nh t, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; phù hợp về th i gian, địa điểm và quá trình diễn biến của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ s để xác định: Vào khoảng 14 gi 55 ph t ngày 28 tháng 12 năm 2020, Ngô Minh T tàng trữ trong t i quần đùi phía trước bên phải 02 (hai) viên nén màu hồng là ma t y tổng hợp loại Methamphetamine, có khối lượng 0,21 (không phẩy hai một) gam. Hành vi của Ngô Minh T thuộc lỗi cố ý, bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi tàng trữ trái phép ch t ma t y của bị cáo Ngô Minh T thực hiện đã đủ yếu tố c u thành tội “Tàng trữ trái phép ch t ma t y”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố và l i luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt như trên là có căn cứ, đ ng ngư i, đ ng tội và đ ng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các ch t ma t y, gây m t trật tự trị an xã hội. Bị cáo biết ma t y là loại ch t gây nghiện có nguy cơ gây hại r t lớn cho xã hội, Nhà nước c m sử dụng, nhưng bị cáo vẫn cố tình c t giữ để sử dụng. Do đó, cần phải nghiêm khắc xử lý trách nhiệm hình sự, tương ứng với tính ch t vụ án, tính ch t nguy hiểm của hành vi phạm tội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung góp phần đ u tranh phòng, chống tệ nạn và các tội phạm về ma t y trong đ i sống xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có th i gian phục vụ trong quân đội, cứu gi p ngư i khác trong trận lũ lịch sử tháng 10/2020 nên được hư ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Từ những phân tích trên, xét th y cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một th i gian để bị cáo có điều kiện cải tạo, sớm tr thành ngư i công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo Ngô Minh T khai nhận, số ma t y trên do bị cáo mua của một đối tượng cống T nhưng không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể về để sử dụng nên không có căn cứ xử lý đối tượng trên.

Về vật chứng vụ án: Khối lượng ch t ma t y thu giữ trong vụ án sau khi đã giám định là vật c m tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; 01 điện thoại di động nhãn hiệu MOBELL của bị cáo, bị cáo không sử dụng vào việc liên lạc để tàng trữ ma t y nên cần trả lại cho bị cáo theo Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 xe mô tô BKS 73G1-305.60 là của anh Ngô Minh T, bị cáo mượn đi mua thuốc lá, anh T không biết bị cáo sử dụng liên quan đến việc tàng trữ ma túy nên Công an huyện Quảng Ninh đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ s hữu là đ ng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Ngô Minh T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Ngô Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma t y”.

Xử phạt bị cáo Ngô Minh T 12 (mư i hai) tháng tù, th i hạn ch p hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 28 tháng 12 năm 2020).

2. Về xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy vật chứng 0,136 gam (không phẩy một ba sáu gam) là ch t ma t y loại Methamphetamine (ký hiệu A), được niêm phong trong phong bì thư có số 41/GĐ-PC09; trả lại cho bị cáo Ngô Minh T 01 điện thoại di nhãn hiệu MOBELL màu xanh dương, đã qua sử dụng. T t cả vật chứng, tài sản trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Ninh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh ngày 08 tháng 4 năm 2021.

3. Án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Ngô Minh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư tr .

Cỡ chữ