- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 12/2021/HSST Ngày: 25/5/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ - HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Khắc Diện; Ông Trần Văn Trƣờng.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thủy.
- Đại diện VKSND huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà:
Ông Trần Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2021 tại hội trƣờng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà đƣa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2021/TLST-HS ngày 27/4/2021 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 14/2021/QĐXXHS-ST ngày 13/5/2021 đối với bị cáo: Bùi Văn T - Tên gọi khác: Không
Sinh ngày: 06/10/1991, tại xã T1, huyện L, tỉnh H.
Nơi cƣ trú: Thôn T2, xã T1, huyện L, tỉnh H.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12;
Con ông: Bùi Văn V - (Đã chết) và bà: Hoàng Thị T3 - Sinh năm: 1968.
Vợ, con: Chƣa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26/8/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 270/2015/HSST. Chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Dƣơng, ra trại ngày 12/11/2015 (đã đƣợc xóa án tích).
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/01/2021 đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng: Chị Trần Thị H1- Sinh ngày: 01/01/1978 (Vắng mặt)
Trú tại: Số nhà 1, đƣờng N, phƣờng L1, quận 9, thành phố H2.
Người có quyền lợi liên quan: Bà Hoàng Thị Th4 - Sinh ngày: 20/10/1968
Nghề nghiệp: Làm ruộng.
Trú tại: Thôn T2, xã T1, huyện L, tỉnh H (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 27/01/2021, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Bùi Văn T đã gọi điện thoại cho một ngƣời đàn ông không quen biết để hỏi mua 300.000 đồng ma túy. Sau khi đã liên hệ mua ma túy và hẹn vị trí giao nhận thì Bùi Văn T đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 38L1- 218.44 của mẹ là bà Hoàng Thị T4 đi đến khu vực gần vòng xuyến thị trấn L rồi đứng chờ tại đây. Một lúc sau có một ngƣời đàn ông không quen biết, khoảng 40 tuổi đi lại gặp và bán cho T 01 gói ma túy bên ngoài đƣợc quấn bằng băng keo màu đen. Sau khi trả số tiền 300.000 đồng thì T điều khiển xe mô tô đi về. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày khi T về đến thôn B, xã T5, huyện L thì bị tổ công tác Công an huyện Lộc Hà phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói ma túy của T cầm ở trên tay vừa rơi xuống mặt đƣờng tại vị trí T đang đứng cùng với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 38L1- 218.44.
Tại thông báo kết quả giám định số 58/GĐMT-PC09 ngày 29/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Chất bột dạng tinh thể màu trắng chứa trong 01 gói nilong trong suốt bên ngoài đƣợc quấn băng keo màu đen gửi giám định là Methamphetamine, có khối lƣợng 0,2588 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C,STT 323, Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Quá trình giám định chất ma túy, cơ quan giám định đã lấy 0,0396 gam để tiến hành giám định và không hoàn lại mẫu vật. Số ma túy còn lại là 0,2192 gam đƣợc cho vào túi nilon trong suốt, cùng toàn bộ vỏ bao gói đƣợc cho vào 01 bì thƣ dán kín các mép lại đƣợc chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Hà để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Hà thu thập trong quá trình điều tra vụ án.
Bản cáo trạng số 14/CT-VKSLH ngày 26/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi của bị cáo Bùi Văn T có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Bùi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 15 (Mƣời lăm) tháng đến 18 (Mƣời tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ 27/01/2021. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại là 0,2192 gam Methamphetamine.
Lời nói sau cùng của bị cáo Bùi Văn T: Bị cáo đã nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật; bị cáo rất ăn năn, hối cải; bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm đƣợc trở về với gia đình và xã hội, bị cáo xin hứa từ nay về sau sẽ tự rèn luyện bản thân, không vi phạm pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về Nội dung vụ án: Xét lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Văn T trƣớc phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh thu thập trong quá trình khởi tố, điều tra vụ án. Do đó HĐXX đã có đủ chứng cứ để kết luận:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 27/01/2021 tại đƣờng Quốc lộ 281 thuộc địa phận thôn B, xã T5, huyện L. Công an huyện Lộc Hà phát hiện bắt quả tang Bùi Văn T trú tại Thôn T2, xã T1, huyện L, tỉnh H đang có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy (Methamphetamin) có khối lƣợng 0,2588 gam.
Hành vi của bị cáo Bùi Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.
Điểm c khoản 1 điều 249 BLHS quy định: Ngƣời nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Methamphetamine có khối lƣợng từ 0,1gam đến dƣới 05 gam.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, thể hiện ở chỗ: Trong thời gian qua tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện Lộc Hà diễn ra khá phức tạp. Đặc biệt các tội về Ma túy và xâm phạm trật tự quản lý hành chính có chiều hƣớng gia tăng. Các cơ quan Nhà nƣớc và chính quyền địa phƣơng đã tăng cƣờng kiểm soát và tuyên truyền cho quần chúng nhân dân nhƣng tình trạng tội phạm vẫn không thuyên giảm.
Đối với Bùi Văn T là một thanh niên có sức khỏe, đáng lẽ bị cáo phải nhận thức đƣợc vai trò, trách nhiệm của mình đối với gia đình và cộng đồng xã hội. Với mục đích có ma túy để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, thể hiện coi thƣờng pháp luật, làm ảnh hƣởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, gây bất bình và dƣ luận xấu trong quần chúng nhân dân.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì bị Bùi Văn T phạm tội không thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại điều 52 BLHS.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì bị cáo Bùi Văn T đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ TNHS: "Ngƣời phạm tội thành khẩn khai báo”, đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.
Xét về nhân thân thì bị cáo Bùi Văn T có nhât thân xấu, bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt tù về tội Trộm cắp tài sản nhƣng không chịu tiến bộ.
Sau khi xem xét đánh giá hành vi, hậu quả, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo và tính chất nghiêm trọng của vụ án, HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 điều 249 BLHS để xử phạt bị cáo một mức hình phạt đủ nghiêm, tƣơng xứng với hành vi phạm tội đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo rèn luyện bản thân có ý thức tôn trọng pháp luật, trở thành công dân lƣơng thiện và có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Ngoài ra, HĐXX áp dụng khoản 5 điều 249 BLHS xử phạt bổ sung bằng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Ngoài số vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Hà đã giải quyết theo thẩm quyền, hiện nay còn có: Số ma túy còn lại sau khi Cơ quan điều tra lấy mẫu giám định là 0,2192 gam Methamphetamine. HĐXX xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, do đó áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS, tuyên tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Bùi Văn T: 18 (Mƣời tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/01/2021.
Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 điều 249; khoản 2, 3 điều 35 BLHS: Xử phạt bị cáo Bùi Văn T số tiền: 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau khi Cơ quan điều tra lấy mẫu giám định là 0,2192 gam Methamphetamine; (Đặc điểm, tình trạng vật chứng nhƣ biên bản giao nhận vật chứng tại hồ sơ vụ án).
Về án phí: Áp khoản 2 điều 135; khoản 2 điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH và danh mục mức án phí, lệ phí toà án ban hành kèm theo, xử buộc: Bị cáo Bùi Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Bị cáo, ngƣời có quyền lợi liên quan, có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh để xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. NƠI NHẬN:
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Cấp cao;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Phòng Nghiệp vụ TAND tỉnh;
- VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
- VKSND huyện Lộc Hà;
- Công an huyện Lộc Hà (2 bản);
- Sở Tƣ pháp tỉnh Hà Tĩnh;
- UBND xã T;
- Chi cục THA dân sự huyện Lộc Hà;
Phan Văn Lâm
- THA hình sự;
- Bị cáo;
- Lƣu văn phòng.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
HỘI THẨM NHÂN DÂN:
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA: Nguyễn Khắc Diện
Trần Văn Trường
Phan Văn Lâm