vanban.org

Bản án 12/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 26/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 §iÒu 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên bố: bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (phiên toà rút kinh nghiệm)…"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP
TỈNH NINH BÌNH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2021/HS-ST
Ngày 26-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Lê Thanh Sơn.

+ Bà Vũ Thị Hải Vân.

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Việt Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hương- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần Ngọc H, sinh ngày 15/8/1988; nơi sinh: thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn Nh, xã Qu, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân D và bà Phạm Thị T; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: tại bản án số 37/2007/HSST ngày 30/8/2007 Tòa án nhân dân thị xã Tam Điệp, nay là thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt Trần Ngọc H 42 tháng tù về tội “Phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”. Về trách nhiệm dân sự: Trần Ngọc H phải bồi thường 9.683.208 đồng cho Công ty điện báo điện thoại bưu điện tỉnh N và Trần Ngọc H phải trả lại cho chị Lê Thị D 1.760.000 đồng; H phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 572.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngày 30/4/2009 Trần Ngọc H đã chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 19/12/2007 H đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Công ty điện báo điện thoại bưu điện tỉnh N (nay là Viễn thông N) và chị Lê Thị D không đề nghị Trần Ngọc H thi hành án đối với phần trách nhiệm dân sự.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2020 đến ngày 22/12/2020 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình theo Quyết định tạm giam số 07/2021/HSST-QĐTG ngày 12/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Trần Xuân D, sinh năm 1954; nơi cư trú: thôn Nh, xã Qu, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. (có mặt).

- Người làm chứng: anh Trần Huy Th. (vắng mặt).

- Người chứng kiến: ông Phạm Ngọc H. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 17/12/2020 tổ công tác Công an phường N tiến hành tuần tra trên địa bàn phường N, khi đi đến đoạn đường Gom, thuộc tổ 5, phường N phát hiện tại lề đường bên phải theo hướng Ninh Bình – Thanh Hóa một nam thanh niên đứng cạnh xe mô tô biển kiểm soát 37G1-618.50 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy, tổ công tác đến yêu cầu kiểm tra. Người thanh niên không xuất trình được giấy tờ tùy thân và khai tên là Trần Ngọc H, H lấy từ túi quần phải phía trước đang mặc ra 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy màu vàng giao nộp cho tổ công tác và khai nhận là gói ma túy loại Heroine mang theo để sử dụng cho bản thân, H vừa mua được của một người đàn ông không quen biết tại khu vực gốc gạo gần đường tàu ngã ba chợ Chiều. Tổ công tác mở gói giấy màu vàng do H giao nộp, kiểm tra phát hiện bên trong là chất bột dạng cục màu trắng, sau đó tiến hành thu giữ và niêm phong theo quy định, sau đó tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Ngọc H. Quá trình kiểm tra còn thu giữ của H 01 xe mô tô biển kiểm soát 37G1-618.50; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VSMART bên trong lắp 02 sim số thuê bao lần lượt là 0987671350 và 0904881000; 01 ống nước cất nhãn hiệu Novocain, 01 bơm kim tiêm loại 3 ml đều chưa qua sử dụng.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã tiến hành mở niêm phong cân xác định chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Trần Ngọc H có khối lượng là 0,17 gam kí hiệu M gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 21/KLGĐ-PC09-MT ngày 20/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1501 gam là ma túy, loại Heroine. Heroine là chất ma túy thuộc Danh mục I, số thứ tự 9; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 07/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo Trần Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Ngọc H từ 16 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 17/12/2020. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong, bên ngoài ghi: vật chứng lưu kho, 01 vỏ phong bì giấy đã bị xé rách một đầu, 01 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 phong bì niêm phong, bên ngoài ghi: số 21/KLGĐ-PC09-MT vụ Trần Ngọc H; mẫu vật hoàn trả gồm M=0,0673 gam, là ma tuý, loại Heroine; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì giấy bị xé rách một đầu dùng để niêm phong điện thoại di động của Trần Ngọc H; 01 bộ bơm kim tiêm loại 3ml/cc, 01 ống Novocain 3% đều chưa qua sử dụng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, ông Trần Xuân D trình bày: sáng ngày 17/12/2020 Trần Ngọc H mượn xe mô tô biển kiểm soát 37G1-618.50 của ông để đi uống Methadone, ông không biết H đi mua ma tuý về sử dụng.

Trong quá trình điều tra, anh Trần Huy Th trình bày: anh thấy H giao nộp gói ma tuý cho công an.

Trong quá trình điều tra, ông Phạm Ngọc H trình bày: ông chứng kiến việc công an thu giữ gói ma tuý của H.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục số 22); lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; lời khai của người làm chứng, người chứng kiến; vật chứng đã thu giữ; Kết luận giám định số 21/KLGĐ-PC09-MT ngày 20/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình (bút lục số 32) cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: khoảng 10 giờ 40 phút ngày 17/12/2020, bị cáo Trần Ngọc H đã cất giữ trái phép 0,1501 gam ma túy, loại Heroine trong người để sử dụng.

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;

Hành vi của bị cáo là cố ý, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Ngọc H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo Trần Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo có bố là ông Trần Xuân D được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, Huân chương chiến công hạng nhì, Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, được hưởng chế độ bệnh binh (bút lục số 74-77) là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân:

Đối với việc chấp hành bản án số 37/2007/HSST ngày 30/8/2007 Tòa án nhân dân thị xã Tam Điệp, nay là thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình về phần trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra xác định Công ty điện báo điện thoại bưu điện tỉnh N (nay là Viễn thông N) và chị Lê Thị D không đề nghị Trần Ngọc H thi hành án đối với phần trách nhiệm dân sự nên Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp không thụ lý giải quyết. Do đó, Trần Ngọc H không phải thi hành án phần trách nhiệm dân sự do đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án (theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự).

Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã được giáo dục, cải tạo, song bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa, phấn đấu trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội mà lại phạm tội.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu VSMART bên trong lắp 02 sim số thuê bao lần lượt là 0987671350 và 0904881000, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Trần Ngọc H không liên quan đến hành vi phạm tội. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại cho bị cáo thông qua ông Trần Xuân D (người được bị cáo H ủy quyền) là đúng pháp luật.

Quá trình điều tra xác định xe mô tô biển kiểm soát 37G1-618.50 thu giữ của Trần Ngọc H là tài sản hợp pháp của ông Trần Xuân D, việc H sử dụng xe mô tô đi mua ma túy ông D không biết. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại xe mô tô trên cho ông D là đúng pháp luật.

Về 0,0673 gam ma túy, loại Heroine còn lại sau khi giám định là vật cấm lưu hành; 01 phong bì niêm phong, bên ngoài ghi: vật chứng lưu kho, 01 vỏ phong bì giấy đã bị xé rách một đầu, 01 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 phong bì niêm phong, bên ngoài ghi: số 21/KLGĐ-PC09-MT vụ Trần Ngọc H, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì giấy bị xé rách một đầu dùng để niêm phong điện thoại di động của Trần Ngọc H; 01 bộ bơm kim tiêm loại 3ml/cc, 01 ống Novocain 3% chưa qua sử dụng đều không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về nguồn gốc ma túy:

Bị cáo Trần Ngọc H khai mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực gốc gạo, gần đường tàu ngã ba chợ Chiều nên không đủ cơ sở điều tra, xác minh làm rõ. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với ông Trần Xuân D: việc bị cáo H sử dụng xe mô tô đi mua ma túy ông D không biết nên ông D không vi phạm pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 §iÒu 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: bị cáo Trần Ngọc H 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 17/12/2020.

2. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 phong bì niêm phong, bên ngoài ghi: vật chứng lưu kho, 01 vỏ phong bì giấy đã bị xé rách một đầu, 01 mảnh giấy bạc màu vàng.

+ 01 phong bì niêm phong, bên ngoài ghi: số 21/KLGĐ-PC09-MT vụ Trần Ngọc H; mẫu vật hoàn trả gồm M=0,0673 gam, là ma tuý, loại Heroine; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.

+ 01 phong bì giấy bị xé rách một đầu dùng để niêm phong điện thoại di động của Trần Ngọc H.

+ 01 bộ bơm kim tiêm loại 3ml/cc, 01 ống Novocain 3% đều chưa qua sử dụng.

(Chi tiết vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09 tháng 3 năm 2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Trần Ngọc H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ