- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc T - Phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2021/HS-ST Ngày 17/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đoàn Thị Thúy.
2. Ông Lò Quốc Việt.
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Mai Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Hoàng Mạnh Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Trần Quốc T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 26 tháng 01 năm 1975; tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; nơi ĐKHKTT: Tổ 0, phường Quyết T, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Trần Gia Kh và bà Đặng Thúy B; vợ Lò Thị H; có 02 con (con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2006); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22 tháng 7 năm 2021 đến nay. Có mặt.
Nhân thân: Ngày 25/12/1998 bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 04 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân; Ngày 24/11/1999 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy; Ngày 23/7/2003 bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Ngày 25/12/2008 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt xử phạt 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 30 phút ngày 22/7/2021, tổ công tác Công an phường Chiềng Sinh phối hợp với Công an phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 2, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La phát hiện, bắt quả tang Trần Quốc T đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: 02 gói nilon màu trắng, một gói bên trong có chất cục bột màu trắng, gói còn lại có 03 viên nén đồng dạng màu hồng (T lấy từ trong túi quần phía trước bên phải đang mặc ra giao nộp và khai nhận là ma túy Heroine và Hồng phiến, cất giữ để sử dụng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc T khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 22/7/2021, Trần Quốc T đi bộ từ nhà ở tổ 2, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La đến khu vực bản Dửn, xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La tìm mua ma túy để sử dụng. Toản đã gặp và mua được của một người đàn ông không biết họ, tên, địa chỉ 01 gói Heroine và 03 viên hồng phiến để trong gói nilon màu trắng với số tiền 1.000.000 đồng. Sau đó, Toản cất giấu số ma túy vừa mua được vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà tìm nơi để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Chiềng Sinh phối hợp với Công an phường Quyết Tâm phát hiện bắt quả tang và thu giữ cùng vật chứng.
Ngày 23/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Trần Quốc T, kết quả: Chất cục bột màu trắng có trong gói nilon màu trắng thứ nhất có khối lượng 0,09 gam, lấy 0,05 gam (ký hiệu A) làm mẫu gửi giám định chất ma túy; 03 viên nén đồng dạng màu hồng có trong gói nilon màu trắng thứ hai có khối lượng 0,29 gam. Lấy 02 viên có khối lượng 0,20 gam (ký hiệu C) làm mẫu gửi giám định chất ma túy.
Kết luận giám định số 1331 ngày 27/7/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu A là ma túy, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,05 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu C là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,20 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,09 gam loại Heroine và 0,29 gam loại Methamphetamine”. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Về nguồn gốc 0,09 gam Heroine và 0,29 gam Methamphetamine, bị cáo Trần Quốc T khai mua của một người đàn ông không quen biết vào ngày 22/7/2021 tại khu vực bản Dửn, xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo, không còn chứng cứ nào khác để chứng minh. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 714/CT-VKSTP ngày 11/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Trần Quốc T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Trần Quốc T từ 16 tháng đến 20 tháng tù.
Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 02 mảnh nilon màu trắng; 0,04 gam Heroine có ký hiệu B và 0,09 gam Methamphetamine có ký hiệu D.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc T nhận tội và không có ý kiến tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, qua xét hỏi bị cáo Trần Quốc T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát thành phố Sơn La đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Ngày 22/7/2021, Trần Quốc T đã có hành vi cất giấu trái phép 0,09 gam Heroine và 0,29 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực tổ 2, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ: Lời khai nhận tội của bị cáo; Biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ là 0,09 gam Heroine và 0,29 gam Methamphetamine; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định; Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận điều tra.
Bị cáo Trần Quốc T có hành vi cất giấu hai chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng. Căn cứ hướng dẫn tại Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ về việc tính tổng khối lượng chất ma túy, xét tổng khối lượng của cả hai chất ma túy là 0,09 gam Heroine + 0,29 gam Methamphetamine = 0,38 gam (tương đương với khối lượng chất ma túy quy định điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015). Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố và Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy và hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Xét cần xử phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung.
Xét tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố mẹ bị cáo được thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất, hạng ba đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông bán ma túy: Bị cáo không biết rõ tên tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Do đó, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma tuý bị thu giữ.
Vật chứng vụ án: Đối với 0,04 gam Heroine có ký hiệu B và 0,09 gam Methamphetamine có ký hiệu D còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định là chất ma túy thuộc loại Nhà nước cấm mua bán, vận chuyển, tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy, theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 02 mảnh nilon màu trắng là vật bị cáo dùng để cất giấu ma túy, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ, theo điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Về án phí: Do hành vi phạm tội của bị cáo nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 22/7/2021).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 0,04 gam Heroine có ký hiệu B và 0,09 gam Methamphetamine có ký hiệu D; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 02 mảnh nilon màu trắng đã được niêm phong trong 01 phong bì công văn của Công an thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
(Số lượng, khối lượng, đặc điểm, tình trạng vật chứng, tài sản theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/10/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Trần Quốc T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Trần Quốc T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/11/2021).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La (2); - THADS thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; - Công an thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; - THAPT (2); - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Phượng |