- Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2021/HS-ST Ngày 07 – 7 –2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lữ Thành Đồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Ngọc Anh
2. Bà Lê Thị Mỹ Linh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phụng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quí - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2021, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2021/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
- Đoàn Văn S - sinh năm 1985 tại huyện L, tỉnh Hậu Giang; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: ấp 4, xã Th, huyện L, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Đoàn Văn Q, sinh năm: 1968 (còn sống); Họ và tên mẹ: Cao Thị H, sinh năm: 1965 (còn sống); Anh, chị, em ruột: 03 người (lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1988); Vợ: Trần Hồng Th, sinh năm: 1984; Con: Có 02 người (lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2008); Tiền sự: không; Tiền án: không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1963; cư trú: ấp 7, xã Th, huyện L, tỉnh Hậu Giang (chết)
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Anh Nguyễn Thanh L, sinh năm: 1983; cư trú tại: ấp 7, xã Th, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
+ Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1990; cư trú tại: ấp 8, xã Th, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
+ Anh Nguyễn Tấn T, sinh năm: 1992; cư trú tại: ấp 7, xã Th, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Thanh L, sinh năm: 1983; cư trú tại: ấp 7, xã Th, huyện L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Hồng Th, sinh năm 1984; cư trú tại: ấp 4, xã Th, huyện L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 21/01/2021, Đoàn Văn S, sinh năm 1985, đăng ký thường trú: ấp 4, xã Th, huyện L, tỉnh Hậu Giang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60V7- 6145 chở Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1992, đăng ký thường trú: ấp 7, xã Th, huyện L đi từ nhà mình ra thị xã L để lôi cây dừa mướn. Đến khoảng 17 giờ sau khi xong việc thì ông L (người chủ thuê lôi dừa) rủ S uống rượu cùng với Đ và 02 người khác uống hết 01 lít rượu thì nghỉ. Đến khoảng 18 giờ, Đ điện thoại kêu bà Nguyễn Thị H (mẹ Đ) chạy xe ra rước về, S chạy xe một mình về nhà Đ, ngồi uống nước trà một lúc đến khoảng 19 giờ thì S điều khiển xe chạy về từ hướng kênh Đồng Mù ra hướng kênh Mười Thước, khi đi đến đoạn đường lộ nông thôn (lộ xi măng 2 mét) thuộc ấp 7, xã Th, huyện L, tỉnh Hậu Giang thì xảy va chạm với xe đạp do ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1963, đăng ký thường trú: ấp 7, xã Th, huyện L, tỉnh Hậu Giang điều khiển xe đi ngược chiều, vụ va chạm xảy ra làm cho hai người cùng ngã xuống mặt đường, S và ông T bị thương, được chuyển đến Trung tâm y tế thị xã L rồi chuyển Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ để cấp cứu. Đến 01 giờ 15 phút 23/01/2021 thì ông Nguyễn Thanh T tử vong.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 17/21/TgT ngày 28/01/2021 của Trung tâm giám định pháp y Sở Y tế tỉnh Hậu Giang đối với bị hại Nguyễn Thanh T như sau:
1. Khám ngoài các vết thương:
Vết 1: Phù nề, tụ huyết vùng giữa chẩm, hình tròn, đường kính 05cm, vết cách đốt sống cổ C1 05cm, cách đỉnh vành tai trái 10cm.
Vết 2: Sây sát, rách da môi trên bên trái, kích thước (02 x 1,5)cm.
Vết 3: Tụ huyết không liên tục vùng ngực 2 bên, kích thước (19 x 05)cm.
Vết 4: Sây sát, rách da mặt trong 1/3 giữa cẳng chân trái, kích thước (01 x 0,5)cm.
Vết 5: Vết rách da mu bàn chân trái, kích thước (06 x 01)cm.
2. Khám trong vùng đầu:
- Tụ huyết dưới da vùng giữa chẩm.
- Tụ huyết dưới bán cầu đại não phải.
Nguyên nhân tử vong của ông Nguyễn Thanh T do chấn thương sọ não.
Kết quả khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ như sau:
- Mặt lộ bằng phẳng được trải bằng bê tông rộng 2m, không bị che khuất tầm nhìn, không có cọc tiêu, biển báo.
- Xe đạp bị ngã trên phần đất cặp lề lộ bê tông, trục trước cách mép đường chuẩn 2,3m, trục sau cách mép đường chuẩn 3,25m theo hướng kênh Đồng Mù về kênh Mười Thước.
- Xe mô tô bị ngã trên phần mặt đường và một phần nằm trên nền đất cặp mép lộ, trục trước cách mép đường chuẩn 2,38m, trục sau cách mép đường chuẩn 1,12m theo hướng kênh Đồng Mù về kênh Mười Thước.
- Một vết cày không liên tục có chiều dài 11,9m, điểm đầu vết cày cách lề lộ bê tông 1,25m, điểm cuối vết cày cách lề lộ bê tông 1,4m theo hướng kênh Đồng Mù về kênh Mười Thước.
- Vùng va chạm cách mép lề 1,55m theo hướng kênh Đồng Mù về kênh Mười Thước.
Quá trình làm việc Đoàn Văn S đã thừa nhận trước khi gây tai nạn giao thông đã uống rượu, khi điều khiển xe mô tô 60V7-6145 đi từ hướng lộ kênh Đồng Mù về lộ kênh Mười Thước để về nhà của mình ở ấp 4, xã Th thì đèn xe mô tô của S ánh sáng mờ mờ không rõ nên không phát hiện xe ông T đi hướng ngược lại nên S đạp thắng gấp va chạm vào xe đạp và gây tử vong cho ông Nguyễn Thanh T. Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ngày 21/01/2021 của Bệnh viện Đa khoa Trung Ương thành phố Cần Thơ kết luận: Nồng độ trong máu của Đoàn Văn S là 173,42mg/100ml máu.
Lỗi thuộc về xe mô tô biển kiểm soát 60V7-6145 do Đoàn Văn S điều khiển xe không đi đúng phần đường, sử dụng rượu khi tham gia giao thông đụng vào ông Nguyễn Thanh T gây tử vong.
Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKS-HLM ngày 18/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Đoàn Văn S về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đoàn Văn S 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm.
Về vật chứng vụ án: Đã xử lý ở giai đoạn điều tra nên không đặt ra xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Đại điện hợp pháp của bị hại đã nhận 100.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố và thống nhất quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, không trình bày tranh luận đối đáp gì, nhưng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện hợp pháp của bị hại xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo về nhà phụ giúp gia đình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, không trình bày tranh luận đối đáp gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Trong giai đoạn điều tra và truy tố những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng. Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Như vậy hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.
. Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 19 giờ 21/01/2021, Đoàn Văn S sau khi uống rượu tại thị xã L, Sơn điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 60V7-6145 chạy về nhà tại xã Th, huyện L, tỉnh Hậu Giang đi trên tuyến lộ nông thôn theo hướng kênh Đồng Mù về kênh Mười Thước khi đến đoạn đường thuộc ấp 7, xã Th, huyện L, tỉnh Hậu Giang do đèn xe của S không được sáng nên khi phát hiện xe đạp chạy chiều ngược lại S giật mình đạp thắng gấp lấn sang lề phía bên trái va chạm với xe đạp của ông Nguyễn Thanh T chạy hướng ngược lại. Hậu quả làm cho ông Nguyễn Thanh T tử vong. Như vậy, có đủ căn cứ xác định lỗi trong vụ tai nạn giao thông là hoàn toàn của bị cáo, bị cáo điều khiển xe mô tô trong tình trạng có sử dụng rượu, đi không đúng phần đường theo quy định đã vi phạm vào khoản 8, 23 Điều 8, Điều 9 Luật giao thông đường bộ; điểm b, c khoản 7 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.
Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ truy tố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 theo như cáo trạng số 13/CT-VKS-HLM ngày 18/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Hậu Giang đã truy tố đối với bị cáo là đúng người đúng tội đúng quy định pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo và gia đình đã nộp khắc phục toàn bộ hậu quả cho người bị hại quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra xét thấy bị cáo có bác ruột là ông Đoàn Văn B được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, gia đình bị hại xin bãi nại nên Hội đồng xét xử vận dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rất rõ khi điều khiển phương tiện xe mô tô tham gia giao thông thì không được phép sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích vượt quá mức cho phép nhưng bị cáo bất chấp quy định của pháp luật giao thông đường bộ. Ngoài ra, khi tham gia giao thông bị cáo lại không tuân thủ quy định pháp luật giao thông, đi không đúng phần đường quy định dẫn đến hậu quả xảy ra nghiêm trọng làm người bị hại tử vong. Mặc dù đây là lỗi vô ý của bị cáo nhưng chính hành vi này là nguyên nhân trực tiếp tước đi tính mạng, sức khỏe của người bị hại. Nên bị cáo phải chịu trách nhiệm do mình gây ra và phải chịu mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, để làm căn cứ quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần đánh giá vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây ảnh hưởng nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xác định bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Từ những phân tích trên, xét toàn diện tính chất vụ án và xét lời luận tội của kiểm sát viên tham gia phiên tòa và mức hình phạt đề nghị xử phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về trách nhiệm dân sự: Đại điện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ 100.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Đã xử lý ở giai đoạn điều tra nên không đặt ra xem xét.
. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đoàn Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYEÁT ÑÒNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đoàn Văn S 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm.
Giao bị cáo Đoàn Văn S cho Ủy ban nhân dân xã Th, huyện L, tỉnh Hậu Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, bị cáo Đoàn Văn S cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án này.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú trong phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hưởng án treo đến cư trú để giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm làm thủ tục chuyển hồ sơ thi hành án treo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hưởng án treo đến cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 85 của Luật thi hành án hình sự năm 2019 và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, về mức án phí, lệ phí tòa án: Buộc bị cáo Đoàn Văn Sơn phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án về các vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi , nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKS ND tỉnh Hậu Giang; - VKS ND huyện Long Mỹ; - Cơ quan CSĐT công an huyện Long Mỹ; - Đội THAHS và HTTP công an huyện Long Mỹ; - Chi cục THA DS huyện Long Mỹ; - Bị cáo và các đương sự có liên quan; - Lưu HS. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lữ Thành Đồng |