vanban.org

Bản án 12/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai Tuyên án 07/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ksor Y T phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Xử phạt bị cáo Ksor Y T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Buộc bị cáo Ksor Y T phải bồi thường cho bị hại Ban quản lý rừng phòng hộ N toàn bộ thiệt hại với tổng số tiền là 43.981.738 đồng. Nhưng được trừ vào số tiền bị cáo đã bồi thường là 3.000.000 đồng, b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ksor Y T phạm tội hủy hoại rừng - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ksor Y T phạm tội “Hủy hoại rừng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2021/HS-ST
Ngày 07 – 4 – 2021

NHÂN DANH

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Khắc Toản.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Mỹ Lệ và ông Lê Văn Thoát

- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Hải Biển - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện K

.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nay Gơm - Kiểm sát viên.

07

4 năm 2021

Trụ sở TAND huyện K, tỉnh Gia Lai công khai

02/2021/

11

01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2021

Ksor Y T, sinh năm 1991, tại S – Phú Yên; Nơi cư trú: Buôn J, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá: không biết chữ; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hving M (đã chết) và bà Ksor H; có vợ và 02 con, con nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú được tại ngoại cho đến nay, hiện có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Ban quản lý rừng phòng hộ N.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Thi Th –Trưởng ban.

Địa chỉ: Tổ Z, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh N – Cán bộ kỹ thuật Ban quản lý rừng phòng hộ N.

Nơi cư trú: Buôn N, xã C, huyện K, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Bùi Thị P – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Ksor L, sinh năm 1979

Nơi cư trú: Buôn J, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

+ Anh Nay B, sinh năm 1988

Nơi cư trú: Buôn G, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

- Người phiên dịch tiếng Jrai: Ông Nay Dăm T, sinh năm 1986. Có mặt.

Nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 01/2019, vì thiếu đất sản xuất Ksor Y T đã sử dụng dao quắm (rựa), cưa xích vào khu vực rừng thuộc lô 4 và lô 5 khoảnh 7 tiểu khu 1420, lâm phần Ban quản lý rừng phòng hộ N, địa giới hành chính xã I, huyện K phát dọn những cây gỗ nhỏ rồi cắt hạ những cây gỗ lớn. Sau khoảng 10 ngày, Ksor Y T đã chặt trắng phần diện tích rừng là 13.900m2, khoảng 01 tháng sau T đốt cháy những cây đã cắt hạ rồi sau đó trồng cây mỳ.

Ngày 31/05/2020, lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ N tuần tra tại khu vực rừng bị phá nêu trên và xác định Ksor Y T là người đã thực hiện hành vi hủy hoại rừng. Ngày 09/07/2020, Ban quản lý rừng phòng hộ N gửi báo cáo đến Hạt kiểm lâm huyện K về vụ việc hủy hoại rừng trên để xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 28/07/2020, Hạt kiểm lâm huyện K ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 10/QĐ-KTVAHS về tội Hủy hoại rừng và chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện K để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 04/08/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện K phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện K, Viện kiểm sát nhân dân huyện K và Ban quản lý rừng phòng hộ N tiến hành khám nghiệm hiện trường. Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Diện tích rừng bị hủy hoại là 13.900 m2, vị trí thuộc lô 4 và lô 5 khoảnh 7 tiểu khu 1420 thuộc địa giới hành chính xã I, huyện K, tỉnh Gia Lai. Loại rừng sản xuất, trạng thái rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo (TXN). Chủ rừng là Ban quản lý rừng phòng hộ N. Dụng cụ chặt hạ chủ yếu bằng cưa xăng và dao (rựa), hình thức chặt trắng, thời gian chặt hạ khoảng từ tháng 01/2019, thân, cành, ngọn cây đã được dọn gom đốt nhưng chưa cháy hết, một phần diện tích đã trồng cây mỳ. Cây bị chặt có đường kính gốc từ 10 cm đến 35 cm, chiều cao gốc chặt từ 10 cm đến 110 cm. Loại cây bị chặt hạ chủ yếu là Bằng lăng, Căm xe, Ké, Dầu nước, Vừng, Thành ngạnh. Tổng số cây bị chặt hạ là 369 cây, thuộc các nhóm gỗ II, III, IV, V, VI, VII, VIII. Có khối lượng gỗ tròn bị thiệt hại là: 15,502 m3 (Mười lăm phẩy năm trăm linh hai mét khối), khối lượng củi bị thiệt hại là 1,38 Ster (một phẩy ba mươi tám ster). Ngoài ra, không có thiệt hại về lâm sản nào khác.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐĐG ngày 27/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện K xác định thiệt hại về lâm sản là 31.038.738 đồng và thiệt hại về môi trường rừng là 12.943.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại trên diện tích rừng bị phá trái phép 13.900m2 là 43.981.738 đồng.

Về dân sự: Ông Nguyễn Minh N là người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của bị hại Ban quản lý rừng phòng hộ N đề nghị xử lý hành vi của bị cáo đúng theo quy định của pháp luật, buộc bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại đã gây ra.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.

06/CT-VKS

05

01 năm 2021

Ksor Y T

“Hủy hoại rừng” theo điểm đ k

2

243 của

2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS).

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Ksor Y T vào tội “Hủy hoại rừng”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX):

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của BLHS: xử phạt bị cáo Ksor Y T từ 24 đến 28 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 42 của BLHS; Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự: buộc bị cáo Ksor Y T phải bồi thường cho bị hại Ban quản lý rừng phòng hộ N là 43.981.738 đồng nhưng được trừ 3.000.000 đồng mà bị cáo đã bồi thường trong giai đoạn điều tra và xét xử, bị cáo còn tiếp tục phải bồi thường là 40.981.738 đồng; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 dao rựa và 01 cưa xích, tịch thu tiêu hủy 01 hộp quẹt.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Quan điểm bào chữa của trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện sát nhân dân huyện K về tội danh, điều luật áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ, nhưng bị cáo là lao động chính trong gia đình, có con nhỏ nên đề nghị HĐXX áp dụng thêm Điều 54 của BLHS xử phạt bị cáo Y T dưới khung và xử bị cáo không quá 18 tháng tù để bị cáo có điều kiện sớm về làm kinh tế lo cho gia đình.

đã

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Cơ quan điều tra Công an huyện K, tỉnh Gia Lai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào khoảng tháng 01 năm 2019, bị cáo Ksor Y T đã tự ý một mình dùng cưa xăng, dao rựa cắt hạ cây gỗ rừng tự nhiên trái phép tại lô 4 và lô 5 khoảnh 7 tiểu khu 1420 thuộc lâm phần Ban quản lý rừng phòng hộ N và thuộc địa giới hành chính xã I, huyện K với tổng diện tích 13.900m2 là loại rừng sản xuất để lấy đất làm rẫy gây thiệt hại về lâm sản là 31.038.738 đồng và thiệt hại về môi trường rừng là 12.943.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại trên diện tích rừng bị phá trái phép là 43.981.738 đồng.

Việc bị cáo T tự ý dùng dao rựa, cưa xăng chặt phá diện tích 13.900m2 rừng tại lô 4 và lô 5 khoảnh 7 tiểu khu 1420, thuộc loại rừng sản xuất để lấy đất làm rẫy mà không có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền là đã phạm vào tội “Hủy hoại rừng”. Diện tích rừng mà bị cáo T chặt phá là 13.900m2 đã thỏa mãn định mức được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 của BLHS, nên Hạt kiểm lâm huyện K đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 10/QĐ-KTVAHS ngày 28/7/2020 về tội “Hủy hoại rừng” quy định tại khoản 2 Điều 243 BLHS và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K điều tra theo thẩm quyền là đúng luật định. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo rõ ràng là có lỗi và sai trái với đường lối, chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước ta, nay phải chịu trách nhiệm hình sự và hậu quả pháp lý đã gây ra.

Lời nhận tội của bị cáo T tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo phạm vào tội “Hủy hoại rừng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 của BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa truy tố bị cáo về hành vi theo tội danh trên là có căn cứ pháp luật.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo T chặt phá 13.900m2 rừng không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm đ khoản 2 Điều 243 của BLHS là phù hợp.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Bị cáo Ksor Y T là người trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhưng thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là chặt phá rừng lấy đất làm nương rẫy đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài nguyên rừng của quốc gia đang được Nhà nước và nhân dân quan tâm chăm sóc và bảo vệ. Nay cần xét đến các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để cá thể hóa hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo là điều cần thiết.

Trong vụ án này thì bị cáo T một mình trực tiếp thực hiện hành vi chặt phá, hủy hoại diện tích 13.900m2 rừng nên bị cáo T phải chịu toàn bộ trách nhiệm hình sự về tội “Hủy hoại rừng” theo tình tiết định khung quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 của BLHS. Nhưng bị cáo T là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tại phiên toà bị cáo đã tỏ ra thành khẩn khai báo, thật sự có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã bồi thường được 3.000.000 đồng cho bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

Mặt khác, bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng sâu, vùng xa, có sự nhận thức hạn chế về pháp luật, bị cáo không biết chữ, do thiếu đất sản xuất nên đi chặt phá rừng với mục đích là lấy đất làm nương rẫy phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Đây được coi là các tình tiết giảm nhẹ khác được áp dụng cho bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, quan điểm của người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát thì HĐXX thấy bị cáo T lần đầu thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng sâu, vùng xa, có sự nhận thức hạn chế về pháp luật, không biết chữ, do thiếu đất sản xuất, nên phá rừng chỉ với mục đích là lấy đất trồng lúa, mỳ phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của cuộc sống; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đồng thời bị cáo T có từ 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS nên có đủ điều kiện để áp dụng Điều 54 của BLHS cho bị cáo hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định thuộc trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của Điều luật là có căn cứ pháp lý. Tuy nhiên vẫn cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để nhằm mục đích trừng trị nhưng cũng giúp cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, đồng thời qua đó răn đe và phòng ngừa loại tội phạm này tái diễn trên địa bàn huyện K đang có chiều hướng gia tăng trong thời gian gần đây.

Lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của bị hại yêu cầu bị cáo T phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về gỗ củi bị chặt phá và thiệt hại về môi trường với tổng cộng số tiền 43.981.738 đồng theo như kết quả định giá là có căn cứ. Do đó, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại toàn bộ thiệt hại với tổng số tiền là 43.981.738 đồng. Nhưng được trừ vào số tiền bị cáo đã bồi thường là 3.000.000 đồng, bị cáo T còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Ban quản lý rừng phòng hộ N là 40.981.738 đồng (Bốn mươi triệu chín trăm tám mươi mốt nghìn bảy trăm ba mươi tám đồng).

Về xử lý vật chứng:

01 (Một) con dao rựa cán làm bằng gỗ dài 37 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 35 cm và 01 (Một) máy cưa xích nhãn hiệu KANTA, màu trắng–cam không có ốp bao bọc phía trên, có giá trị nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Còn 01 (Một) hộp quẹt ga màu đen không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Đặc điểm chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/01/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo T thuộc diện hộ nghèo, không có nghề nghiệp và tài sản gì có giá trị cho nên HĐXX quyết định không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai là xã đặc biệt khó khăn của huyện Krông Pa theo quy định của Chính phủ, đồng thời bị cáo có đơn xin miễn tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm. Căn cứ vào Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu , nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, HĐXX quyết định miễn toàn bộ án phí hình sự và dân sự sơ thẩm cho bị cáo T.

Trong vụ án này, bị hại Ban quản lý rừng phòng hộ N cũng có một phần trách nhiệm, thiếu kiểm tra, kiểm soát đối với diện tích rừng được Nhà nước giao quản lý, bảo vệ để xảy ra tình trạng huỷ hoại rừng, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước. Do đó, thông qua Bản án này, Hội đồng xét xử kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của bị hại Ban quản lý rừng phòng hộ N trong việc để xảy ra tình trạng huỷ hoại rừng, gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước nêu trên. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Ksor Y T phạm tội “Hủy hoại rừng”.

1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự,

Xử phạt bị cáo Ksor Y T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự,

Buộc bị cáo Ksor Y T phải bồi thường cho bị hại Ban quản lý rừng phòng hộ N toàn bộ thiệt hại với tổng số tiền là 43.981.738 đồng. Nhưng được trừ vào số tiền bị cáo đã bồi thường là 3.000.000 đồng, bị cáo T còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Ban quản lý rừng phòng hộ N là 40.981.738 đồng (Bốn mươi triệu chín trăm tám mươi mốt nghìn bảy trăm ba mươi tám đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

3. Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (Một) máy cưa xích nhãn hiệu KANTA, màu trắng–cam không có ốp bao bọc phía trên và 01 (Một) con dao rựa cán làm bằng gỗ dài 37 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 35 cm

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) hộp quẹt ga màu đen không có giá trị.

Đặc điểm chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/01/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.

4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Miễn toàn bộ án phí hình sự và dân sự sơ thẩm cho bị cáo Ksor Y T.

Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (07/4/2021) để yêu cầu Toà án Nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ