- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2021/HS-ST Ngày 18-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Nhung.
Các Hội Thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thành Công.
2. Ông Thạch Thanh Long.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thạch Ươn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Cao Minh Dương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2021/HSST, ngày 25 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2021/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D, sinh năm 1953 tại tỉnh Trà Vinh; Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: ấp R, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.
Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Phan Thị C (đã chết). Anh chị em ruột: có 01 người, sinh năm 1951. Vợ tên Đặng Thị N, sinh năm 1957. Con: có 04 người, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1990.
Tiền án: không.
Tiền sự: 01. Vào ngày 15/01/2020 bị cáo Nguyễn Văn D bị Công an xã Nhị Long, huyện Càng Long xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, bị cáo đã nộp phạt ngày 15/01/2020.
Bị cáo được tại ngoại điều tra; (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Phạm Hữu C, sinh năm 1966. Có mặt.
2. Ông Phạm Hữu N, sinh năm 1963; Có mặt.
3. Bà Huỳnh Thị Thu E, sinh năm 1971. Vắng mặt có lý do.
Cùng cư trú: ấp R2, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa: không có.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 09/3/2020, Công an xã Nhị Long, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh nhận được tin báo của nhân dân tại nhà ông Phạm Hữu C có nhiều đối tượng đang tụ tập đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài được thua bằng tiền. Nhận được tin báo Công an xã Nhị Long tiến hành kiểm tra địa điểm trên phát hiện ba đối tượng đang đánh bạc trái phép được thua bằng tiền gồm: Nguyễn Văn D, Phạm Hữu C và Phạm Hữu N.
Tang vật thu giữ tại hiện trường gồm: 01 (một) bộ bài tây 52 lá và số tiền VNĐ là 630.000 đồng. Kiểm tra trên người và xung quanh hiện trường quản lý số tài sản của Nguyễn Văn D: 01 máy điện thoại di động hiệu Samsung màn hình cảm ứng, màu xám bạc, số IMEI 1: 352405/09/467816/1, số IMEI 2: 352406/09/467816/9 đã qua sử dụng, 01 xe mô tô hiệu YAMAHA loại JUPITER, biển kiểm soát 52T2-7047, số khung SD1-26920, số máy SD1-26920; của Phạm Hữu N: số tiền VNĐ 2.900.000 đồng;
Qua điều tra xác minh vụ vi phạm hành chính có dấu hiệu tội phạm nên Công an xã Nhị Long chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Càng Long giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Càng Long các đối tượng khai nhận: khoảng 13 giờ ngày 09/3/2020, bị cáo Nguyễn Văn D đến nhà của ông Phạm Hữu C. Tại đây, bị cáo D gặp ông Phạm Hữu C và ông Phạm Hữu N, ông N rủ bị cáo D và ông C đánh bài được thua bằng tiền thì cả hai đồng ý. Ông C kêu vợ tên Huỳnh Thị Thu E mang bộ bài tây loại 52 lá chưa sử dụng đưa cho ông C (bà Thu E đem bộ bài ra bán với giá 6.000 đồng), lý do nhà vợ chồng ông C bán nước giải khát, có bán bài tây. Bị cáo D, ông N và ông C tiến hành chơi bài binh xập xám được thua bằng tiền, gồm 03 tụ, mỗi tụ có 13 lá được binh thành 03 chi, hình thức thắng thua như sau: tụ bài có 03 chi lớn nhất sẽ thắng 02 tụ bài còn lại mỗi tụ số tiền 10.000 đồng, tụ bài có 02 chi lớn nhất và 01 chi nhỏ sẽ thắng 02 tụ bài còn lại mỗi tụ số tiền 10.000 đồng, đối với tụ bài có tứ quý, thùng phá sảnh, 03 sảnh, 06 đôi, 03 sám cô thì bãi bài tức là thắng 02 tụ bài còn lại, vị trí ngồi chơi đánh bài phía nhà sau của ông C. Đến khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, trong lúc ông C, ông N và bị cáo D đang chơi ván bài chưa phân thắng thua thì lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện lập biên bản mời các đối tượng về cơ quan Công an làm việc.
Số tiền mà bị cáo Nguyễn Văn D dùng vào việc đánh bạc là 150.000 đồng, thắng được 60.000 đồng, tổng cộng số tiền là 210.000 đồng, số tiền mà ông Phạm Hữu N dùng vào việc đánh bạc là 160.000 đồng, thắng được 40.000 đồng, tổng cộng số tiền là 200.000 đồng, số tiền mà ông Phạm Hữu C dùng vào việc đánh bạc khoảng hai đến ba trăm ngàn, không xác định đã thua bao nhiêu nhưng số tiền còn lại là 220.000 đồng.
Như vậy tổng số tiền mà bị cáo Nguyễn Văn D với ông Phạm Hữu N và ông Phạm Hữu C dùng vào việc đánh bạc là 630.000 đồng, chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm nhưng qua xác minh vào ngày 15/01/2020 bị cáo Nguyễn Văn D bị Công an xã Nhị Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 12/QĐXPVPHC với mức phạt tiền là 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013, đã chấp hành đóng phạt ngày 15/01/2020.
Về vật chứng:
- 01 bộ bài tây 52 lá.
- Tiền VNĐ 3.110.000 đồng (trong đó của bị cáo D dùng đánh bạc 150.000 đồng, thắng 60.000 đồng, tổng cộng 210.000 đồng và số tiền 2.900.000 đồng của ông Phạm Hữu N không dùng để đánh bạc).
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màn hình cảm ứng, màu xám bạc, số IMEI 1: 352405/09/467816/1, số IMEI 2: 352406/09/467816/9;
- 01 xe mô tô hiệu YAMAHA loại JUPITER, biển kiểm soát 52T2-7047, số khung SD1-26920, số máy SD1-26920;
- 01 (một) cái bàn bằng nhựa màu xanh có kích thước 0,63m x 0,43m x 0,50m.
Tại Cáo trạng số: 11/CT-VKS-HS, ngày 23/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long truy tố bị cáo Nguyễn Văn D tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn D thống nhất với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như sau: “Khoảng 13 giờ ngày 09/3/2020, tại nhà của ông Phạm Hữu C, tọa lạc ấp Rạch Rô 2, xã Nhị Long, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, bị cáo cùng với Phạm Hữu C và Phạm Hữu N đang đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài binh xập xám được thua bằng tiền thì bị Công an phát hiện và lập biên bản”.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long: Sau khi phân tích các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, vị còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.
Qua quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và người có quyền lợi - nghĩa vụ liên có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo không có lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của luật Tố tụng hình sự và giới hạn xét xử của Tòa án theo Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Càng Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn D tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan cùng với các tài liệu, vật chứng và các chứng cứ khác do cơ quan điều tra Công an huyện Càng Long thu thập có được trong hồ sơ vụ án.
Do vậy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng qui định pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi vì, việc chơi bài binh xập xám được thua bằng tiền là một hình thức đánh bạc trái với quy định của pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến hoạt động quản lý của Nhà nước và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an địa phương. Pháp luật nhà nước ta nghiêm cấm đánh bạc trái phép, ăn thua bằng tiền dưới bất kỳ hình thức nào nhằm thu lợi bất chính. Việc chơi bài binh xập xám được thua bằng tiền không cần phải tốn nhiều công sức nhưng vẫn thu lợi nhuận rất cao nên bị cáo bất chấp pháp luật dùng mọi thủ đoạn nhằm qua mặt chính quyền địa phương và các Cơ quan bảo vệ pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội.
Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm đã hoàn thành, hậu quả đã xảy ra. Bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, nhưng do bản tính xem thường pháp luật nên bị cáo bất chấp vi phạm. Trước đó, bị cáo bị Công an xã Nhị Long, huyện Càng Long xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Đáng lẽ bị cáo phải biết sửa chữa lỗi lầm của mình để trở thành một công dân tốt, nhưng bị cáo không làm được việc này và tiếp tục vi phạm. Đối với lần vi phạm này mặc dù số tiền phạm tội chỉ có 630.000 đồng nhưng do bị cáo đã bị xử phạt hành chính chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc.
Thực tế cho thấy, đánh bạc được thua bằng tiền là một tệ nạn xã hội và là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm khác, đồng thời làm mất ổn định về trật tự xã hội ở địa phương; tham gia đánh bạc, nhiều con bạc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế khó khăn, làm phát sinh mâu thuẫn gia đình dẫn đến mất hạnh phúc và hơn nữa việc đánh bạc đã tạo nên gánh nặng cho xã hội.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có sức khỏe, lẽ ra bị cáo phải biết chọn cho mình một nghề nghiệp chính đáng để có thu nhập nuôi sống bản thân và giúp ích cho gia đình, nhưng với bản tính đỏ, đen và hám lợi đã dẫn bị cáo đến con đường phạm tội.
Tình hình đánh bạc và các tệ nạn xã hội thời gian gần đây trên địa bàn tỉnh Trà Vinh và huyện Càng Long xảy ra ngày càng nhiều, hành vi phạm tội hết sức tinh vi, xảo quyệt. Nhằm để góp phần ổn định tình hình trật tự tại địa phương và đấu tranh ngăn ngừa tội phạm. Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt hình sự bị cáo Nguyễn Văn D là cần thiết, nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Hội đồng xét xử cũng cần xem xét những tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là sau khi phạm tội thật thà khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do bị cáo Nguyễn Văn D có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng và có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy không cần phải bắt bị cáo Nguyễn Văn D chấp hành hình phạt tù mà phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn D cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Đối với hành vi của ông Phạm Hữu N và ông Phạm Hữu C không đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc nên không xử lý. Riêng bà Huỳnh Thị Thu E không thu lợi ích từ các đối tượng đánh bạc và không tham gia đánh bạc nên không xử lý.
Về vật chứng:
- 01 bộ bài tây 52 lá và 01 (một) cái bàn bằng nhựa màu xanh có kích thước 0,63m x 0,43m x 0,50m. Là tang vật của vụ án, không còn giá trị sử dụng, tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Tiền VNĐ 3.110.000 đồng, trong đó tiền bị cáo D dùng đánh bạc 150.000 đồng, thắng 60.000 đồng, tổng cộng 210.000 đồng, nghĩ nên tuyên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước và số tiền 2.900.000 đồng của ông Phạm Hữu N không liên quan đến hành vi đánh bạc, tuyên trả lại cho ông N.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màn hình cảm ứng, màu xám bạc, số IMEI 1: 352405/09/467816/1, số IMEI 2: 352406/09/467816/9 và 01 xe mô tô hiệu YAMAHA loại JUPITER, biển kiểm soát 52T2-7047, số khung SD1-26920, số máy SD1-26920 của bị cáo D không liên quan đến hành vi phạm tội, tuyên trả lại cho bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 2 Điều 12 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, do bị cáo Nguyễn Văn D là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí nên bị cáo Nguyễn Văn D được miễn nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ Điều 327, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.
[2] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
* Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây 52 lá và 01 (một) cái bàn bằng nhựa màu xanh có kích thước 0,63m x 0,43m x 0,50m.
* Tuyên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:
Tiền Việt Nam 210.000 đồng.
* Tuyên trả:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màn hình cảm ứng, màu xám bạc, số IMEI 1: 352405/09/467816/1, số IMEI 2: 352406/09/467816/9 và 01 xe mô tô hiệu YAMAHA loại JUPITER, biển kiểm soát 52T2-7047, số khung SD1-26920, số máy SD1-26920 cho bị cáo Nguyễn Văn D.
Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long tiếp tục quản lý các tài sản trên để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
- Tiền Việt Nam 2.900.000 đồng cho ông Phạm Hữu N.
[3] Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 2 Điều 12 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Bị cáo Nguyễn Văn D không phải nộp án phí.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo và người có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày án sơ thẩm đã tuyên. Đối với người có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 06; Điều 07 và Điều 09 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện, tỉnh; - Chi cục THADS huyện; - Công an huyện; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thị Kim Nhung |