vanban.org

Bản án 12/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 19/04/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/04/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Duy H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12 /2021/HS-PT
Ngày 19-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Văn Hiên

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Cảnh; Ông Võ Đình Sớm

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Nga – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Đinh Ê Ban Mỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 113/2020/TLPT-HS ngày 25 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo Phạm Duy H. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2020/HS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2020 của Toà án nhân dân thị xã An K, tỉnh Gia Lai;

Bị cáo có kháng cáo: Phạm Duy H, (tên gọi khác là Rần), sinh ngày 17/8/1990 tại Tuy Ph, Bình Định; nơi ĐKHKTT: Thôn Trung Th, xã Phước L, huyện Tuy Ph, tỉnh Bình Định, chỗ ở hiện nay: tổ 1, phường An T, thị xã An K, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Phạm Duy Khvà bà Dương Thị Hồng K; có vợ là Phan Thị Thu H, có 02 con sinh năm 2017 và 01 con 02 tháng tuổi; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/2/2020 đến ngày 24/2/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 50 phút ngày 15/2/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã An K, tỉnh Gia Lai bắt quả tang Phạm Duy H đang tàng trữ 630 quả thực vật, hình tròn màu xanh còn tươi. H khai là quả thuốc phiện tươi.

Qúa trình điều tra xác định: Do quen biết với nhau qua mạng xã hội và đã nhiều lần mua củ, rễ cây đinh lăng của Vũ Xuân Hnên H có số điện thoại và địa chỉ zalo của H1. Ngày 12/02/2020, H truy cập vào zalo nhắn tin hỏi mua của H1 03kg quả thuốc phiện với giá 1.800.000 đ/kg. H chuyển vào tài khoản của H1 số tiền 2.000.000đ để đặt cọc tiền mua quả thuốc phiện. Sáng ngày 15/02/2020, H nhận một thùng giấy tại cầu Bà Di thuộc thị xã An Nh, tỉnh Bình Định do H1 gửi qua xe khách tuyến Bắc Nam (không xác định biển số xe). Sau đó, H đón xe mang về nhà bà Đinh Thị Tần thuộc tổ 1, phường An T, thị xã An K mở ra thì thấy bên trong thùng giấy có chứa nhiều quả thuốc phiện tươi, còn cuống, vừa lúc đó Công an thị xã An K ập vào bắt quả tang cùng tang vật và niêm phong số quả thuốc phiện trên theo đúng quy định của pháp luật.

2. Tại Bản án hình sơ sơ thẩm số 32/2020/HS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2020, Toà án nhân dân thị xã An K, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Phạm Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự,

Xử phạt bị cáo Phạm Duy H 12 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày vào trại chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/02/2020 đến ngày 24/02/2020

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm, tuyên quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

3. Kháng cáo của bị cáo:

Ngày 01/12/2020 bị cáo Phạm Duy H có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt (án treo). Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xác nhận bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo nộp thêm tài liệu là đơn xin cứu xét thể hiện nội dung bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi 02 con nhỏ, vợ bị cáo mới sinh, bản thân bị cáo quá trình sinh sống tại địa phương không có sai phạm; và nộp biên lai nộp tiền án phí sơ thẩm. Tại phiên tòa bị cáo rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án treo

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai cho rằng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo đủ các điều kiện được cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, được hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao “hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo”. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm: Với mục đích mua quả thuốc phiện tươi về ngâm để sử dụng, bị cáo đã có hành vi cất giấu 630 quả thuốc phiện tươi, có tổng khối lượng là 1.968 gam thì bị phát hiện bắt quả tang. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo tàng trữ quả thuốc phiện tươi với khối lượng 1,968 gam, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên phạt bị cáo mức án 12 tháng tù, là mức án khởi điểm của khung hình phạt là đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, xem xét và áp dụng đúng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đã thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rút một phần kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, căn cứ vào Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử đình chỉ phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và xét kháng cáo còn lại

Bị cáo khi bị bắt quả tang đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội với thái độ thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; là lao động chính trong gia đình. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm biên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm, đơn xin cứu xét có nội dung bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ bị cáo vừa mới sinh con; bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương; có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; việc cho bị cáo được cải tạo tại chỗ dưới sự giám sát, giáo dục của địa phương không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Như vậy, trường hợp của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định về điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật hình sự.

Từ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Duy H.

2. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Duy H. Sửa bản án sơ thẩm số 32/2020/HS-ST ngày 19/11/2020 của Tòa án nhân dân thị xã An K, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt đối với bị cáo Phạm Duy H

Tuyên bố bị cáo Phạm Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 249; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Phạm Duy H 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày 19 tháng 4 năm 2021

Giao bị cáo Phạm Duy H cho Ủy ban nhân dân phường An T, thị xã An K, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Phạm Duy H có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường An T, thị xã An K, tỉnh Gia Lai trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Phạm Duy H

Trường hợp bị cáo Phạm Duy H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Phạm Duy H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 2 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Phạm Duy H phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo Phạm Duy H phải chấp hành hình phạt của này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015.

3. Về án phí : Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Duy H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ