- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ÔNG H XIN LY HON BÀ T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Trương H. Cho ông Trương H và bà Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn.
- Căn cứ chính? Quyết định số 326/2014/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung Quy…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 12/2021/HNGĐ- ST Ngày: 02 – 3 - 2021 “V/v: Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Văn Điền
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Vàng Huy Lập
+ Ông Dƣơng Hải Long
Thư ký phiên toà: Bà Lê Ngọc Hoàng Anh - Là thư ký Toà án của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 692/2020/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2020 về “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐST-HNGĐ ngày 11/01/2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trƣơng H, sinh năm 1985
Địa chỉ: số 173/4 Thôn X, xã X Trường, thành phố Đ, tỉnh L.
Bị đơn: Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn X Trường 02, xã X, thành phố Đ, tỉnh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 10 năm 2020 nộp tại Tòa án thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trương Hiền trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương H kết hôn với bà Nguyễn Thị Thùy T vào năm 2007, tại ủy ban nhân dân xã X, thành phố Đ, tỉnh L, hôn nhân tự nguyện có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và được sự đồng ý của hai gia đình. Sau khi kết hôn vợ chồng sống ở nhà bố mẹ ông H tại X , thành phố Đ, tỉnh L, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà T không lo cho gia đình, con cái, ham chơi, tính cách mỗi người khác nhau không dung hòa được, lời ăn tiếng nói cũng khác nhau nên vợ chồng thường xuyên cải vã, xúc phạm lẫn nhau. Vợ chồng đã ly thân từ lâu không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay ông H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn bà Nguyễn Thị Thùy T .
Về con chung: có 02 con tên Trương Gia H, sinh ngày 03/8/2007 và Trương G, sinh ngày 02/8/2012. Hiện nay các con đang ở với ông H (bố). Ly hôn theo nguyện của các con là được ở với ông H nên ông H đồng ý nuôi cả hai con và yêu cầu bà T cấp dưỡng 2.000.000đồng/tháng/02 con đến khi các con thành niên.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: không có.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, đã tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, kết quả tiếp cận công khai chứng cứ theo quy định của pháp luật nhưng bà T cũng không đến tòa. Nên tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên Tòa hôm nay: Ông Trương H yêu cầu xin ly hôn bà Nguyễn Thị Thùy T và yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Vụ án thụ lý đúng trình tự theo luật quy định. Về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán từ khi nhận đơn đến lúc đưa vụ án ra xét xử, xác định tư cách tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự cũng như chứng cứ của vụ án, việc hòa giải đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đảm bảo đúng quy định.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương H và bà Nguyễn Thị Thùy T là hợp pháp, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà T không lo cho gia đình, con cái, ham chơi, tính cách mỗi người khác nhau không dung hòa được, lời ăn tiếng nói cũng khác nhau nên vợ chồng thường xuyên cải vã, xúc phạm lẫn nhau vợ chồng không có hạnh phúc. Nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn ông H.
Về con chung: Giao 02 con tên Trương Gia H, sinh ngày 03/8/2007 và Trương G, sinh ngày 02/8/2012 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con thành niên. Tại phiên tòa ông H không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung đây là sự tự nguyện của ông H nên ghi nhận.
Về tài sản chung: Không có
Nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ông Trương H yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị Thuỳ T, nên xác định quan hệ tranh chấp“Xin ly hôn” theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Trang có hộ khẩu tại Thôn X, xã X Trường, thành phố Đ, tỉnh L, nên căn cứ Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh L giải quyết.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành triệu tập, niêm yết hợp lệ nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Do đó căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Trương H và bà Nguyễn Thị Thuỳ T có đăng ký kết hôn, tại ủy ban nhân dân xã X, thành phố Đ, tỉnh L, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống ở nhà bố mẹ ông H tại X, thành phố Đ, tỉnh L, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà T không lo cho gia đình, con cái, ham chơi, tính cách mỗi người khác nhau không dung hòa được, lời ăn tiếng nói cũng khác nhau nên vợ chồng thường xuyên cải vã, xúc phạm lẫn nhau.
Tại phiên tòa hôm nay ông H không đồng ý đoàn tụ gia đình và xác định tình cảm không còn, hôn nhân không thể tiếp tục nên xin được ly hôn bà Trang.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bà T đã được triệu tập, tống đạt, niêm yết hợp lệ nhưng vẫn không đến tòa thể hiện sự không tôn trọng pháp luật, hơn nữa không mong muốn đoàn tụ gia đình. Qua lời khai của nguyên đơn tại phiên tòa cũng như các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ, biên bản xác minh tại khu phố việc mâu thuẫn của vợ chồng ông H tổ không biết nên không có cơ sở để hòa giải. Do đó áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Hiền.
Về con chung: ông H xác định vợ chồng có hai con chung tên Trương Gia H, sinh ngày 03/8/2007 và Trương G, sinh ngày 02/8/2012. Hiện nay ông H là bố đang nuôi dưỡng và cũng theo nguyện vọng của hai con là được ở với bố (ông H). Nên tiếp tục giao hai con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con thành niên.
Về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình hòa giải và tại biên bản tự khai ông H yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung nhưng tại phiên tòa hôm nay ông H thay đổi không cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của ông H nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Về án phí: ông Trương H phải chịu toàn bộ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, 35, 36, 39, 147 và Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ vào Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2014/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Trương H. Cho ông Trương H và bà Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn.
2. Về nuôi con chung:
2.1 Giao hai con chung tên Trương Gia H, sinh ngày 03/8/2007 và Trương G, sinh ngày 02/8/2012 cho ông Trương H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con thành niên.
2.2 Về trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con: Ông H không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung.
Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp, không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, quyền thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về án phí: ông Trương H phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm (được trừ toàn bộ vào số tiền 300.000đồng ông Trương H đã tạm nộp theo biên lai thu số: AA/2017/0003274 ngày 29 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng).
Quyền kháng cáo:
Ông Trương H có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng bà Nguyễn Thị Thùy T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ( niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh L; - VKSND TP Đ; - Chi cục THA Đ; - UBND,xả X, TP Đ. - Đương sự; - Lưu; | TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Điền |