vanban.org

Bản án 12/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 07/05/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về con chung: Giao hai con chung Nguyễn Lê Hoàng L (sinh ngày 01/10/2017) và Nguyễn Lê Hoàng T (sinh ngày 01/10/2017) cho bà Lê Thi ̣ Hoàng P trực tiếp nuôi sau khi ly hôn. Ông Nguyễn Hoàng C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 07-5-2021
Về việc ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Văn Thi ̣ Lê ̣ Văn

Ông Trần Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thi ̣ Ngo ̣c Á nh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hồng Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 13/2021/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 08/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng C (C Hoang Nguyen)

Đi ̣a chi: Hoa Kỷ

̀.

Đi ̣a chi liên la ̣̉

c: Phườ ng T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mă ̣t, có đơn yêu cầu xét xử vắng mă ̣t.

- Bị đơn: Bà Lê Thi ̣ Hoàng P

Đi ̣a chi: Thi ̣̉

trấn G, huyê ̣n V, tỉnh Khánh Hòa. Có mă ̣t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn đề nghi ̣ xé t xử và hòa giải vắng mặt và phiếu điều tra về hôn nhân và gia đinh, nguyên đơn ông Nguyễn Hoà ng C

̀

trình bày:

Ông là ngườ i có nguồn gốc Viê ̣t Nam đi ̣nh cư ta ̣i Hoa Kỳ và hiê ̣n mang quốc ti ̣ch Hoa Kỳ. Năm 2017, ông và bà Lê Thi ̣ Hoàng P kết hôn vớ i nhau, được Ủ y ban nhân dân huyê ̣n V, tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứ ng nhâ ̣n kết hôn số 06 ngày 23/01/2017.

Sau khi kết hôn, ông ở lại Việt Nam một thờ i gian ngắn rồi ông trở về My vã ̀ một thờ i gian sau, bà P cũng qua My đoã

̀n tụ gia đinh. Khoà

̉ng thờ i gian đó, vợ chồng ông sống vớ i nhau rất ha ̣nh phúc. Tuy nhiên, sau một thờ i gian chung sống, vợ chồng ông bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn do khác biê ̣t về văn hóa, lối sống, không khi gia đinh vi thế luôn nă ̣ng nề, căng thẳng. Vợ chồng ông đa cỗ ́ gắng tim cách

́

̀

̀

̀ vượt qua các khác biê ̣t để duy tri hôn nhân nhưng mâu thuẫn ngày càng trở nên gay

̀ gắt không thể hòa hợp. Vào khoảng tháng 10 năm 2019, bà P đa vễ ̀ Viê ̣t Nam sinh sống cho đến nay, còn ông thi đi ̣̀ nh cư ta ̣i Mỹ. Qua thờ i gian xa cách, ông nhâ ̣n thấy vợ chồng không còn tình cảm vớ i nhau; vi vâ ̣̀ y, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà P.

Về con chung: Ông và bà P có vớ i nhau 02 ngườ i con chung là Nguyễn Lê Hoàng L (sinh ngày 01/10/2017) và Nguyễn Lê Hoàng T (sinh ngày 01/10/2017), đều đang ở với bà P. Ông đồng ý đề bà P nuôi cháu L, ông se nuôi cháu T và nhữ vậy, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lờ i khai và quá trinh giải quyết vụ á n, bi ̣ đơn

̀ bà Lê Thi ̣ Hoà ng P trinh bà y:

̀

Bà P thống nhất với trình bày của ông C về việc kết hôn và con chung. Năm 2019, ông C bảo lãnh cho bà và 02 con sang My theo diê ̣̃

n đoàn tụ, bà sống ta ̣i My ̃ được 06 tháng và được cấp thẻ xanh thờ i ha ̣n 10 năm. Tuy nhiên, do hoàn cảnh kinh tế của ông C khó khăn nên ông C đưa bà và các con về la ̣i Viê ̣t Nam vào tháng 10 năm 2019. Ông C ở Viê ̣t Nam được 10 ngày thi lầ ́y toàn bộ giấy tờ tùy thân của bà và các con cùng nữ trang đám cướ i quay la ̣i My. Vĩ

vâ ̣̀ y, bà và các con phải ở lại Viê ̣t Nam. Từ khi về My đễ ́n nay, ông C không thực hiê ̣n trách nhiê ̣m chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung. Vi vâ ̣̀ y, bà P đồng ý ly hôn vớ i ông C.

Về con chung: Bà P yêu cầu được nuôi cả 02 con chung và yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 10.000.000 đồng mỗi con cho đến khi các con trưở ng thành.

Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu: Tòa án đã tuân thủ các qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để ủy thác tư pháp lấy lời khai của nguyên đơn vì văn bản trình bày ý kiến của nguyên đơn được gửi kèm đơn khởi kiện trước khi Tòa án thụ lý vụ án là không đảm bảo; hơn nữa, nguyên đơn chưa có lời khai về cấp dưỡng nuôi con và để xác minh về điều kiện nuôi con hiện nay của bi ̣ đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục: Ta ̣i phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng C đang ở nước ngoài vắng mă ̣t và có đơn yêu cầu xử vắng mă ̣t. Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 477 của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự, Tòa án xét xử vắng mă ̣t ông Nguyễn Hoàng C.

Về đề nghị tạm ngừng phiên tòa để thu thập tài liệu, chứng cứ của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa: Kèm theo đơn khởi kiện và đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện, nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng C cung cấp cho Tòa án các tài liệu chứng cứ cũng như lời khai của ông liên quan đến các vấn đề cần giải quyết trong vụ án là về hôn nhân, con chung và cấp dưỡng nuôi con, đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt ông; các tài liệu này đều đã được hợp pháp hóa lãnh sự nên việc Tòa án sử dụng các tài liệu, chứng cứ này làm căn cứ giải quyết vụ án là đúng pháp luật. Về con chung, cả nguyên đơn và bi ̣ đơn đều xác định hai con chung hiện đang ở với bà Lê Thi ̣ Hoàng P tại Việt Nam, không ai có phản ánh về việc điều kiện nuôi con của bà P không đảm bảo; ông C còn đồng ý để bà P nuôi 01 cháu. Các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn, bi ̣ đơn cung cấp và do Tòa án thu thập đã đầy đủ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Về nô ̣i dung: Ông Nguyễn Hoàng C và bà Lê Thi ̣ Hoàng P tự nguyê ̣n kết hôn vớ i nhau, được Ủ y ban nhân dân huyên V, tị

nh Khánh Hòa cấp Giấy chứ ng

̉ nhâ ̣n kết hôn số 06 ngày 23/01/2017. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Ông Nguyễn Hoàng C và bà Lê Thi ̣ Hoàng P đều xác định vợ chồng đã không chung sống từ tháng 10/2019 khi bà P cùng 02 con chung về Viê ̣t Nam sinh sống còn ông C sống tại Mỹ và vợ chồng không còn tinh cà

̉m vớ i nhau. Vi vâ ̣̀ y, Hô ̣i đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Hoàng C là có căn cứ nên được chấp nhận.

Ông Nguyễn Hoàng C và bà Lê Thi ̣ Hoàng P đều xác đi ̣nh có 02 ngườ i con chung là cháu Nguyễn Lê Hoàng L (sinh ngày 01/10/2017) và cháu Nguyễn Lê Hoàng T (sinh ngày 01/10/2017), hiện đều đang sống với bà P. Hội đồng xét xử xét thấy: tinh đến thờ i điểm xét xử , hai cháu Nguyễn Lê Hoàng L (sinh ngày

́ 01/10/2017) và cháu Nguyễn Lê Hoàng T (sinh ngày 01/10/2017) chi mở ́ i 03 tuổ i 07 tháng 06 ngày, các cháu đang sống ổn định với bà P trong khi ông C đang sinh sống ở nước ngoài. Vi vâ ̣y, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, Hội đồng xét

̀ xử xét thấy cần giao 02 con cho bà P trực tiếp nuôi sau khi ly hôn, ông C có nghiã vụ cấp dưỡng nuôi 02 con định kỳ hàng tháng, mỗi tháng 4.000.000 đồng cho mỗi con cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Ông Nguyễn Hoàng C phải chịu 300.000 đồng án phí về ly hôn và 300.000 đồng án phi cấ ́p dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 và Điều 129 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Ông Nguyễn Hoàng C được ly hôn bà Lê Thi ̣ Hoàng P.

2. Về con chung: Giao hai con chung Nguyễn Lê Hoàng L (sinh ngày 01/10/2017) và Nguyễn Lê Hoàng T (sinh ngày 01/10/2017) cho bà Lê Thi ̣ Hoàng P trực tiếp nuôi sau khi ly hôn.

Ông Nguyễn Hoàng C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về nghia vụ̃

cấp dưỡng: Ông Nguyễn Hoàng C có nghia vụ̃

cấp dưỡng nuôi 02 con là Nguyễn Lê Hoàng L (sinh ngày 01/10/2017) và Nguyễn Lê Hoàng T (sinh ngày 01/10/2017) định kỳ hàng tháng, mỗi tháng 4.000.000 đồng cho mỗi con cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

5. Về án phí: Ông Nguyễn Hoàng C phải chịu 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0001441 ngày 08 tháng 3 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Như vậy, ông Nguyễn Hoàng C chỉ còn phải nộp 300.000 đồng.

Qui định chung:

- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án và bản án có hiệu lực thi hành, nếu người phải thi hành án không thi hành án thì còn phải trả lãi theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

- Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

̀

Ông Nguyễn Hoàng C có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, bà Lê Thi ̣ Hoàng P được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ