- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu Th và anh Lê Quốc Th được ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2021/HNGĐ-ST Ngày: 25-02-2021 V/v: “ Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thiết
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Tấn Phát
2. Ông Nguyễn Văn Tới
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Cẩm Loan, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Tiểu Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 454/2020/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2021/QĐST-HNGĐ ngày 28-01-2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu Th, sinh năm 1995 – có mặt
Địa chỉ: Số 18, đường 28 B, khu phố T, phường S, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
2. Bị đơn: Anh Lê Quốc Th, sinh năm: 1994 –vắng mặt
Địa chỉ: Số 25, đường 11 B, khu phố Th, phường S, thành phố Tây Ninh, tinh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 10 năm 2020 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – chị Nguyễn Thị Thu Th trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu Th và anh Lê Quốc Th tự nguyện quen biết và kết hôn với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn vào ngày 13-6-2017 tại Ủy ban nhân dân phường S, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống với nhau rất hạnh phúc, chung sống khoảng một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn chủ yếu là tính tình không hợp, không chăm lo làm ăn phụ giúp về kinh tế gia đình. Vì tình cảm vợ chồng không còn nên chị Th yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Th.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Nguyễn Quốc B, sinh ngày 23-5-2017. Chị Th yêu cầu được quyền nuôi con chung và yêu cầu anh Th có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng được tính từ tháng 01 năm 2011 cho đến khi con trưởng thành tự lao động sinh sống được.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thu Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Lê Quốc Th vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nên không cung cấp chứng cứ, lời trình bày.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh có ý kiến quá trình thụ lý giải quyết đến khi xét xử:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội qui phiên tòa.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu Th; giao cháu Lê Nguyên Quốc B cho chị Nguyễn Thị Thu Th nuôi dưỡng; tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị Thu Th có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Lê Quôc Th. Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay anh Lê Quốc Th vắng mặt, mặt dù Tòa án đã niêm yết nhiều lần, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Th là phù hợp với quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu Th và anh Lê Quốc Th tự nguyện chung sống vợ chồng từ năm 2017, trước khi chung sống vợ chồng hai anh chị có tìm hiểu với nhau trước, việc xây dựng gia đình được sự đồng ý của hai bên gia đình, anh chị đăng ký kết hôn vào ngày 13-6-2017 tại Ủy ban nhân dân phường S, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Chị Nguyễn Thị Thu Th và anh Lê Quốc Th xây dựng gia đình với nhau là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với các quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được xem là hôn nhân hợp pháp.
Xét mâu thuẫn vợ chồng: Trong thời gian chung sống vợ chồng giai đoạn đầu có hạnh phúc, sau đó lại phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên tranh cãi với nhau, không chăm lo làm ăn. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập anh Lê Quốc Th nhiều lần để hòa giải giữa hai bên nhưng anh Th không đến Tòa án cho thấy anh Th không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th là phù hợp.
Về con chung: Chị Th trình bày có 01 con chung tên Lê Nguyễn Quốc B, sinh ngày 23-5-2017. Chị Th yêu cầu được quyền nuôi cháu B, yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 đồng. Xét thấy cháu B hiện nay đang sống với chị Th ổn định, nên giao cháu Lê Nguyễn Quốc B cho chị Nguyễn Thị Thu Th tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa chị Th yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng là phù hợp nên cần chấp nhận
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thu Th, anh Lê Quốc Th không yêu cầu tòa án giải quyết nên cần ghi nhận.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu Th phải chịu theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu Th và anh Lê Quốc Th được ly hôn.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Nguyễn Quốc B, sinh ngày 23-5-2017 cho chị Nguyễn Thị Thu Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
Anh Lê Quốc Th có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Lê Nguyên Quốc B mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi cháu bảo tự lao động sinh sống được, thời gian cấp đưỡng được tính từ tháng 01-3-2021.
Anh Lê Quốc Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Lê Quốc Th và Nguyễn Thị Thu Thkhông yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu Th phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị Thủy đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000781 ngày 29-10-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Chị Nguyễn thị Thu Th đã nộp đủ án phí.
Anh Lê Quốc Th phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Án sơ thẩm xử công khai thông báo cho nguyên đơn biết được quyền kháng bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND TPTN; - THADS TPTN; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Văn Thiết |