vanban.org

Bản án 12/2020/KDTM-ST — Tranh chấp về xây dựng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH A (Việt Nam) đối với bị đơn Công ty TNHH một thành viên B về việc “Tranh chấp hợp đồng thi công”. Buộc Công ty TNHH một thành viên B phải trả lại cho Công ty TNHH A (Việt Nam) số tiền 331.730.000 đồng (ba trăm ba mƣơi mốt triệu bảy trăm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xây dựng — án kinh doanh thương mại — "Công ty A - Công ty B"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 129 Bộ luật Dân sự; Điều 131 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số:12/2020/KDTM-ST
Ngày: 24 - 6 - 2020
V/v tranh chấp hợp đồng thi
công

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thiện;

2. Bà Huỳnh Ngọc Sƣơng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cảnh Khang – là Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thƣơng mại thụ lý số: 14/2020/TLST-KDTM ngày 20 tháng 02 năm 2020 về việc: Tranh chấp hợp đồng thi công theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐXXST-KDTM ngày 15 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2020/QĐST-KDTM ngày 05 tháng 6 năm 2020 giữa:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH A (Việt Nam), địa chỉ trụ sở: Lô B2.1, đƣờng C4, khu công nghiệp C, xã H, huyện B, tỉnh Tây Ninh, ngƣời đại diện hợp pháp ông Bùi Phúc Th, sinh năm 1979, nơi thƣờng trú: Khu phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh - là ngƣời đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 20/9/2019). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH một thành viên B; địa chỉ trụ sở chính: Số T16/13, khu phố B, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Ngƣời đại diện hợp pháp ông Võ Thành V, sinh năm 1991, nơi thƣờng trú: Số 93, ấp A, xã T, thị xã C, tỉnh Bình Dƣơng, chức danh: Chủ tịch công ty kiêm giám đốc - là ngƣời đại diện theo pháp luật. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/11/2019, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn - ông Bùi Phúc Th trình bày:

Ngày 04 tháng 6 năm 2019 Công ty TNHH A (Việt Nam) (viết tắt là Công ty A) và Công ty TNHH một thành viên B (viết tắt là Công ty B) có ký Hợp đồng số: WY-XY 20190604001. Theo thỏa thuận của hợp đồng thì Công ty B nhận thi công văn phòng tạm thời ở hiện trƣờng của Công ty A tại địa chỉ Lô B2.1 đƣờng C4, xã H, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Tổng số tiền thi công là 663.460.000 đồng. Phƣơng thức thanh toán: Sau khi ký kết hợp đồng Công ty A thanh toán 50% tổng số tiền hợp đồng trong vòng 7 ngày, sau khi hoàn thành công trình thì Công ty A thanh toán 40% tổng số tiền trên hợp đồng trong vòng 7 ngày, 03 (ba) tháng sau thanh toán hết 10% tổng số tiền hợp đồng trong vòng 15 ngày cho Công ty B. Thời gian thi công công trình là 20 ngày từ ngày 07 tháng 6 năm 2019 đến ngày 28 tháng 6 năm 2019.

Ngày 11 tháng 6 năm 2019 Công ty A đã thanh toán số tiền 331.730.000 đồng vào tài khoản số 0281000581259 tại Ngân hàng TMCP ngoại thƣơng chi nhánh Bình Dƣơng cho Công ty B. Tuy nhiên, từ khi thanh toán số tiền trên Công ty B không thực hiện thi công công trình theo hợp đồng và cũng không đồng ý trả lại số tiền 331.730.000 đồng mà Công ty A đã thanh toán. Do đó, Công ty A khởi kiện yêu cầu Công ty B thanh toán toàn bộ số tiền 331.730.000 đồng cho Công ty A.

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp gồm: Hợp đồng số: WY-XY 20190604001 ngày 04/6/2019; ủy nhiệm chi ngày 11/6/2019.

Bị đơn - Công ty B đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng đều vắng mặt và không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình về yều cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục đƣợc pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng xem nhƣ đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình. Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Toà án đã tiến hành thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn theo đúng quy định tại các Điều 175, 177, 196, 208 và Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhƣng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt. Nhƣ vậy, việc bị đơn vắng mặt đƣợc xem là từ bỏ quyền trình bày, đƣa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Bùi Phúc Thạch có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hợp đồng số: WY-XY 20190604001 ngày 04/6/2019 giữa Công ty TNHH A (Việt Nam) và Công ty TNHH một thành viên B xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng thi công theo quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ đơn khởi kiện và công văn số 256/ĐKKD ngày 13/3/2020 của Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Bình Dƣơng xác định bị đơn Công ty TNHH một thành viên B có địa chỉ trụ sở chính tại số T16/13, khu phố B, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Nguyên đơn xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có ký kết hợp đồng thi công văn phòng tạm thời tại hiện trƣờng thể hiện tại hợp đồng số WY-XY 20190604001 ngày 04/6/2019. Bên nguyên đơn là bên thuê thi công, bị đơn là bên nhận thi công. Công trình thi công là văn phòng tạm thời ở hiện trƣờng của Công ty A tại địa chỉ Lô B2.1 đƣờng C4, xã H, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Quá trình thực hiện, ngày 11 tháng 6 năm 2019 Công ty A đã thanh toán số tiền 331.730.000 đồng vào tài khoản số 0281000581259 tại Ngân hàng TMCP ngoại thƣơng chi nhánh Bình Dƣơng cho Công ty B. Tuy nhiên, từ khi thanh toán số tiền trên cho đến nay Công ty B không thực hiện thi công công trình trên theo hợp đồng.

Xét chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp là Hợp đồng số WY-XY 20190604001 ngày 04/6/2019 đƣợc lập bằng tiếng Trung Quốc đối chiếu Điều 11 Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ quy định: “…Ngôn ngữ sử dụng cho hợp đồng xây dựng là tiếng Việt; đối với hợp đồng xây dựng có yếu tố nƣớc ngoài thì ngôn ngữ sử dụng là tiếng Việt và tiếng nƣớc ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn; trƣờng hợp không thỏa thuận đƣợc thì sử dụng tiếng Anh…”. Do đó về hình thức hợp đồng là chƣa phù hợp quy định pháp luật.

Xét ủy nhiệm chi ngày 11/6/2019 thể hiện nguyên đơn đã chuyển cho bị đơn số tiền 331.730.000 đồng vào tài khoản số 0281000581259 tại Ngân hàng TMCP ngoại thƣơng chi nhánh Bình Dƣơng. Ngày 19/6/2020 Tòa án có công văn số 161/TA-KDTM yêu cầu Ngân hàng TMCP ngoại thƣơng Việt Nam cung cấp bảng sao kê tài khoản số tài khoản 0281000581259 của Công ty B vào ngày 11/6/2019. Qua thông tin Ngân hàng cung cấp số tài khoản 0281000581259 là của Công ty TNHH Nam Phƣơng Việt Nam, ngày 11/6/2019 số tài khoản trên có nhận đƣợc số tiền 331.730.000 đồng do Công ty A chuyển đến có nội dung Công ty A chuyển tiền hợp đồng số WY-XY 20190604001. Do đó có căn cứ xác định Công ty TNHH B đã nhận số tiền 331.730.000 đồng của Công ty A. Từ khi nhận tiền đến nay Công ty B không thực hiện thi công công trình theo hợp đồng nên có căn cứ buộc Công ty TNHH B phải trả lại số tiền trên cho Công ty A.

Quá trình tố tụng, bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng đều vắng mặt và không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình về yều cầu khởi kiện của nguyên đơn xem nhƣ từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Do vậy có đủ căn cứ xác định lời trình bày của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Xét thấy việc nguyên đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình là thanh toán tiền thi công đợt 1 đúng nhƣ hợp đồng, bên phía bị đơn phải có nghĩa vụ thi công công trình theo hợp đồng nhƣng bị đơn không thực hiện là vi phạm nghĩa vụ. Do vậy cần buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền đã nhận là 331.730.000 đồng.

Từ những nhận định trên, có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Về án phí kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 129, 131, 385 và 407 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH A (Việt Nam) đối với bị đơn Công ty TNHH một thành viên B về việc “Tranh chấp hợp đồng thi công”.

Buộc Công ty TNHH một thành viên B phải trả lại cho Công ty TNHH A (Việt Nam) số tiền 331.730.000 đồng (ba trăm ba mƣơi mốt triệu bảy trăm ba mƣơi nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm:

Công ty TNHH một thành viên B phải chịu 16.586.500 đồng (mƣời sáu triệu năm trăm tám mƣơi sáu nghìn năm trăm đồng) án phí kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm.

Trả lại cho Công ty TNHH A (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.293.250 đồng (tám triệu hai trăm chín mƣơi ba nghìn hai trăm năm mƣơi đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0046173 ngày 19/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ.

Trƣờng hợp quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ