vanban.org

Bản án 12/2020/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V.

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Trâm A phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V thông qua Chi nhánh Gia Lai số tiền 324.724.029 đồng (Trong đó: gốc 156.485.288 đồng; lãi trong hạn: 15.320.729 đồng; nợ lãi quá hạn 71.904.181 đồng; phạt chậm trả 5.310.296 và nợ thẻ 75… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V (Viết tắt là VPBank)-Công ty trách nhiễm hưu hạn Một thành viên Trâm A"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2020/KDTM-ST
Ngày: 21-10-2020
V/v Tranh chấp về hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Rmah HThuyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Bích Thủy

2. Ông Ksor Thưl

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quang Ân - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 10 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2020/TLST-KDTM ngày 14 tháng 02 năm 2020 về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2020/QĐXXST-KDTM ngày 10 tháng 9 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V (Viết tắt là VPBank);

Trụ sở: 89 L, phường Láng H, quận Đ, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Thành D và ông Nguyễn Hữu M, chuyên viên xử lý nợ (Văn bản ủy quyền ngày 02-10-2020).

Địa chỉ: 30 đường T, phường Tây S, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Ông D và ông M có mặt.

2. Bị đơn: Công ty trách nhiễm hưu hạn Một thành viên Trâm A; địa chỉ 12/11/236 đường P, tổ 4, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai do bà Lê Thị Minh H-Chủ tịch kiêm giám đốc Công ty đại diện theo pháp luật. Bà H vắng mặt.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Minh H, sinh năm 1970

Địa chỉ: 12/11/236 đường P, tổ 4, phường Thống N, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện của nguyên đơn trình bày:

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Trâm A (Sau đây viết tắt là Công ty Trâm A) vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V-Chi nhánh Gia Lai (Viết tắt là là VPBank) theo Hợp đồng cho vay hạn mức số: SME/GLI/18/0007/HDHM ngày 28/02/2018 với các nội dung tóm tắt như sau:

Công ty Trâm A đã được giải ngân 5 lần, tương ứng với 5 khế ước nhận nợ, cụ thể như sau:

Ngày 06-9-2018, giải ngân 120.000.000 đồng với lãi suất 22.7%/năm, hạn trả nợ ngày 06-9-2019.

Ngày 12-10-2018, giải ngân 69.000.000 đồng với lãi suất 24%/năm (điều chỉnh 01 tháng một lần), hạn trả nợ ngày 12-10-2019.

Ngày 04-12-2018, giải ngân 120.000.000 đồng với lãi suất 22.2%/năm (điều chỉnh 01 tháng một lần), hạn trả nợ ngày 04-12-2019.

Ngày 04-01-2019, giải ngân 68.000.000 đồng với lãi suất 22%/năm (điều chỉnh 01 tháng một lần), hạn trả nợ ngày 04-01-2020.

Ngày 28-01-2019, giải ngân 51.000.000 đồng với lãi suất 22.2%/năm (điều chỉnh 01 tháng một lần), hạn trả nợ ngày 28-01-2020.

Thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh hàng may sẵn.

Ngoài ra, Công ty Trâm A còn ký kết Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm ngày 06 tháng 02 năm 2018.

Khoản vay này được bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản cá nhân của Bà: Lê Thị Minh H theo các Hợp đồng Bảo lãnh số: SME/GLI/18/0007/HDBL ngày 28-02-2018 (bảo lãnh cho Hợp đồng cho vay hạn mức); SME/GLI/01/02/18/HĐBL ngày 06-02-2018 (bảo lãnh cho Hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế).

Trong quá trình sử dụng vốn vay, Công ty Trâm A đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. VPBank đã nhiều lần liên hệ và làm việc Công ty Trâm A để yêu cầu hoàn trả nợ vay nhưng Công ty Trâm A cố tình kéo dài thời gian nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.

Do vậy, VPBank khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty Trâm A phải trả ngay một lần cho VPBank tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến hết ngày 21-10-2020 tổng cộng cả gốc và lãi là: 324.724.029 đồng (Trong đó: gốc 156.485.288 đồng; lãi trong hạn: 15.320.729 đồng; nợ lãi quá hạn 71.904.181 đồng; phạt chậm trả 5.310.296 và nợ thẻ 75.703.535 đồng) và tiền lãi phát sinh của số tiền còn phải thanh toán từ ngày 21-10-2020 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho VPBank với mức lãi suất theo Hợp đồng tín dụng.

Trường hợp Công ty Trâm A không thanh toán theo yêu cầu nêu trên, bà Lê Thị Minh Hiếu phải thanh toán toàn bộ các khoản vay nêu trên theo hợp đồng bảo lãnh đã ký.

Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục để triệu tập hợp lệ đối với đại diện bị đơn đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Minh H. Tuy nhiên, bà Hiếu không đến Tòa án để cung cấp chứng cứ, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do vậy, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có lời khai tại hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm và nguyên đơn phải chịu lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện thì nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền phát sinh từ hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn, hai bên đương sự đều có đăng ký kinh doanh và giao kết hợp đồng đều có mục đích lợi nhuận. Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có trụ sở tại tổ 4, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai có thẩm quyền thụ lý, giải quyết yêu cầu của nguyên đơn.

Bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung:

Xét Hợp đồng cho vay hạn mức số: SME/GLI/18/0007/HDHM giữa nguyên đơn với bị đơn được giao kết hợp pháp nên nó phát sinh hiệu lực, các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ các điều khoản đã cam kết. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Trâm A đã không thanh toán đúng hạn các khoản lãi cho Ngân hàng, vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng. Do đó, VPBank yêu cầu Công ty Trâm A thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày 20-10-2020 cả gốc và lãi là 324.724.029 đồng (Trong đó: gốc 156.485.288 đồng; lãi trong hạn: 15.320.729 đồng; nợ lãi quá hạn 71.904.181 đồng; phạt chậm trả 5.310.296 và nợ thẻ 75.703.535 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 21-10-2020 cho đến khi Công ty Trâm A trả hết nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Khoản vay của Công ty Trâm A đã được bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản cá nhân của bà Lê Thị Minh H theo các Hợp đồng bảo lãnh số: SME/GLI/18/0007/HDBL ngày 28-02-2018 (bảo lãnh cho Hợp đồng cho vay hạn mức) và Hợp đòng bảo lãnh số: SME/GLI/01/02/18/HĐBL ngày 06-02-2018 (bảo lãnh cho Hợp đồng thẻ tín dụng quốc tế).

Xét Hợp đồng bảo lãnh trên thấy rằng: Việc bảo lãnh thể hiện ý chí của các bên khi giao kết hợp đồng. Mục đích, nội dung, hình thức của hợp đồng bảo lãnh phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành. Do vậy, trường hợp Công ty Trâm A không thanh toán được khoản tiền nợ trên thì bà Lê Thị Minh H có nghĩa vụ phải thanh toán đầy đủ các khoản nợ trên cho VPBank.

Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm, nguyên đơn phải chịu tiền lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 30, 35, 39, 144, 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ các Điều 274, 275, 335, 342, 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V.

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Trâm A phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V thông qua Chi nhánh Gia Lai số tiền 324.724.029 đồng (Trong đó: gốc 156.485.288 đồng; lãi trong hạn: 15.320.729 đồng; nợ lãi quá hạn 71.904.181 đồng; phạt chậm trả 5.310.296 và nợ thẻ 75.703.535 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 21-10-2020 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Trong trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Trâm A không trả được hoặc trả không đủ nợ gốc và nợ lãi nêu trên cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V thì bà Lê Thị Minh H có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ các khoản nợ trên cho VPBank.

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Trâm A phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 16.236.201đ (Mười sáu triệu, hai trăm ba mươi sáu nghìn, hai trăm lẻ một đồng).

Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V phải chịu tiền lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 4.144.000 đồng được khấu trừ số tiền đã nộp 6.000.000 đồng tại biên bản giao nhận ngày 10-6-2020; hoàn trả lại Ngân hàng 1.856.000 đồng số tiền tạm ứng lệ phí còn lại là 1.856.000 đồng, Ngân hàng đã nhận đủ theo Biên bản giao nhận ngày 10-9-2020.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.958.555đ (Năm triệu, chín trăm năm mươi tám nghìn, năm trăm năm mươi lăm đồng) theo biên lai thu tiền số 0004685 ngày 14-02-2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Đối với Công ty Trâm Anh và bà Lê Thị Minh H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.

Cỡ chữ