- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Danh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Danh T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI TỈNH YÊN BÁI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2020/HS-ST Ngày 19 - 3-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Độ
Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Vân và bà Đình Thị Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thao - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Phạm Anh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 03 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 03 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Danh T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 08 tháng 9 năm 1958, tại Yên Bái; nơi cư trú tổ 09, phường Nguyễn Thái Học, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Danh Văn và bà Nguyễn Thị Yến (đều đã chết); có vợ Nguyễn Thị H (Nguyễn Kim H) và 02 con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 13-11-2019. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Yên Bái. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị H (Nguyễn Kim H) - sinh năm 1958; nơi cư trú: tổ 09, phường Nguyễn Thái Học, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện chất ma túy, ngày 09 -11- 2019 Nguyễn Danh T đã mua 01 gói ma túy loại Heroine của Nguyễn Minh C, trú tại tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Một gói ma túy với giá 2.000.000 đồng mục đích tàng trữ để sử dụng.
Khoảng 09 giờ 15 phút, ngày 13-11-2019 T mang theo 02 gói ma túy loại Heroine đến khu vực đường dân sinh thuộc tổ 15, phường Nguyễn Thái Học, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái để sử dụng, T chưa kịp sử dụng thì bị cơ quan Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ gồm: 02 gói ma túy loại Heroine; 110.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA đã qua sử dụng có số thuê bao: 0383.656.891.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Danh T Cơ quan điều tra thu giữ: 01 lọ thủy tinh bên trong có 02 gói giấy bạc mầu trắng chứa 1,36 gam ma túy loại Heroine; 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Danh T; 7.000.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Danh T thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ 1,62 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng.
Tại kết luận giám định giám định về ma túy số: 218/GĐMT ngày 21 tháng 11 năm 2019 của phòng kỹ thuật hình sự kết luận: Chất bột nén mầu trắng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Danh T có tổng khối lượng là: 0,26 gam là ma túy loại Heroine; Chất bột nén mầu trắng thu giữ khi khám xét nơi ở của Nguyễn Danh T có tổng khối lượng là 1,36 gam ma túy loại Heroine.
- Bản cáo trạng số: 11/KSĐT-MT ngày 10 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố bị cáo Nguyễn Danh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái luận tội đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Danh T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Danh T từ 01 năm 06 tháng năm đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng, trách nhiệm dân sự và án phí: Giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và vật chứng của vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Danh T đã có hành vi tàng trữ 1,62 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Đây là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó cần đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Bị cáo là người có sức khỏe và có đủ năng lực nhận thức để điều chỉnh mọi hành vi hoạt động của bản thân. Bị cáo hiểu rõ tác hại của chất ma túy đối với sức khỏe của con người việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn mua về để sử dụng cho bản thân. Thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là kém. Do đó cần có một mức hình phạt thỏa đáng tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng chống tội phạm nói chung.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với nguồn gốc số ma túy mà T khai mua của Nguyễn Minh C, trú tại: Tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại nơi cư trú, nhưng C vắng mặt tại địa phương, nên không đủ căn cứ để xử lý C trong vụ án này.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Đối với 0,08 gam ma túy loại Heroine trích từ 0,26 gam ma tuý và 0,1 gam ma túy loại Heroine trích từ 1,36 gam ma tuý thu giữ của Nguyễn Danh T, Cơ quan giám định đã sử dụng vào việc giám định, không hoàn lại mẫu vật, Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Đối với số ma tuý loại Heroine thu giữ của Nguyễn Danh T sau khi đã lấy mẫu giám định còn lại 1,28 gam được niêm phong trong các phong bì niêm phong vật chứng do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh phát hành ; 06 vỏ phong bì đã mở niêm phong, túi nilon, giấy gói; 01 lọ thủy tinh hình vuông có nắp đậy, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA mầu đen đã qua sử dụng của Nguyễn Danh T, do bị cáo không dùng vào việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.
Số tiền 7.110.000.000 đồng xác định của bị cáo và bà Nguyễn Thị H (vợ bị cáo) không liên quan đến tội phạm. Cơ quan điều tra đã trả cho bà H là phù hợp.
- 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Danh T trả lại cho bị cáo Nguyễn Danh T
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Danh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Danh T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Danh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để tạm giữ là ngày 13 - 11- 2019.
3. Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: Số ma tuý loại Heroine thu giữ của Nguyễn Danh T sau khi đã lấy mẫu giám định còn lại 1,28 gam được niêm phong trong các phong bì niêm phong vật chứng do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh phát hành mặt trước có ghi: “Vật chứng thu giữ trong vụ Nguyễn Danh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 13 tháng 11 năm 2019 (sau khi trích mẫu giám định)” mặt sau có họ, tên và các chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong; 06 vỏ phong bì đã mở niêm phong, túi nilon, giấy gói; 01 lọ thủy tinh hình vuông có nắp đậy.
- Trả cho bị cáo Nguyễn Danh T: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA mầu đen đã qua sử dụng; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Danh T.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Nguyễn Danh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả T thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSND TP; - CATP Y; - Trại tạm giam; - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ - THADS thành phố; - THA phạt tù (2); - Lưu HS, T A. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Thị Độ |