- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Văn T - phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC TỈNH HÒA BÌNH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2020/HSST Ngày: 10/7/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC – TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Yến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Thanh Xuân – Cán bộ hưu trí
2. Bà Bùi Thị Liên – Cán bộ hưu trí
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc tham gia phiên tòa:
Ông Đinh Mạnh Cơ – Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 7 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2020/HSST ngày 01/6/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2020/QĐXX- HS ngày 30/6/2020 đối với bị cáo:
LÊ VĂN T – sinh ngày 14/8/1993; nơi sinh: Đ - Quảng Ninh; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Th, sinh năm 1967 và bà Hoàng Thị M, sinh năm 1968; Vợ là Mulle T, sinh năm 1991 và hai con lớn sinh năm 2013 nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 12/4/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2013 về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/02/2020 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Lạc. Được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 21/2/2020 Lê Văn T bắt xe ô tô khách đi từ nhà thuộc huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh lên huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La chơi với Lò Văn S. Đến khoảng 4h ngày 22/2/2020 T lên đến nơi và được Lò Văn S đón về nhà nghỉ ngơi. Do là đối tượng nghiện chất ma túy nên T nảy sinh ý định tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. T biết được ở khu vực bản Co Tang, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La là nơi có nhiều người bán lẻ trái phép chất ma túy với giá rẻ nên đến 17 giờ cùng ngày T mượn xe máy của Lò Văn S để đi mua ma túy. Khi mượn xe máy của Sơn, Lê Văn T không nói mục đích sử dụng đi đâu, làm gì. Sau đó T một mình điều khiển xe máy đi đến khu vực bản Co Tang, xã Lóng Luông. Tại đây T gặp một người đàn ông khoảng 20 tuổi, cao khoảng 1,55m, da trắng, dáng người gầy và hỏi mua 500.000đồng ma túy đá. Người đàn ông này đồng ý, bảo T đứng chờ rồi đi bộ vào trong bản, khoảng 30 phút sau người này quay ra đưa cho T 02 gói nilong có chứa ma túy dạng tinh thể màu trắng. Xác định đúng là ma túy, T đã đưa cho người này 500.000đồng rồi quay xe về nhà Sơn. Trên đường đi T đã dừng xe dọc Quốc lộ 6, thấy vắng người nên lấy gói ma túy vừa mua ra sử dụng bằng hình thức hút qua điếu tự chế đã chuẩn bị sẵn. Số ma túy còn lại T cất giấu trong túi bên trái áo khoác đang mặc rồi tiếp tục điều khiển xe máy đi về nhà S.
Trong đêm ngủ lại nhà S, Lê Văn T và S đã bàn bạc cùng với nhau đi trộm cắp xe máy để kiếm tiền tiêu sài. Sáng ngày 23/2/2020 Lê Văn T và Lò Văn S đã thực hiện hành vi trộm cắp được 02 chiếc xe máy, 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA DREAM và 01 xe nhãn hiệu HONDA VISION. T và S đã bán chiếc xe HONDA DREAM còn chiếc xe HONDA VISION T đã tháo biển số lắp lại bằng biển số khác để đi về Đ - Quảng Ninh. Trên đường di chuyển từ Sơn La về Quảng Ninh, khi đi đến khu vực Km 103+50m Quốc lộ 6 xóm Thanh Bình, thị trấn Mãn Đức, huyện Tân Lạc thì bị Tổ công tác Công an huyện Tân Lạc yêu cầu dừng xe kiểm tra. Sau khi dừng xe T đã tự giác lấy số ma túy trong túi bên trái áo khoác đang mặc giao nộp cho tổ công tác, gồm: 02 gói nilong màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng, T khai là ma túy đá.
Quá trình kiểm tra còn phát hiện và thu giữ của Lê Văn T:
- 01 xe máy BKS 26B2-208.76 nhãn hiệu HONDA VISION màu sơn đen
đỏ; số máy RLHJF5812GY516921; số khung JF66E0789562
- 01 biển kiểm soát xe máy số 26B2-269.08
- 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 042821; biển số đăng
ký 26B2-269.08; tên chủ xe Hoàng Thị Yến; nhãn hiệu xe: HODA
VISION; màu sơn: Đen đỏ; cấp ngày 22/01/2018
- 01 thẻ căn cước công dân số 022093004535 mang tên Lê Văn T; cấp
ngày 01/7/2019; nơi cấp : Cục Cảnh sát QLHC về TTXH
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen; số IMEI 1:
358131092085373; số IMEI 2: 358132092085371
- 01 cờ lê kim loại màu trắng, một đầu 10mm, một đầu 12mm
- 01 vam kim loại hình chữ T
- 04 thanh kim loại hình lục lăng, một đâu bằng và một đầu mài thành lưỡi
hai bên
- 29 tờ tiền Polyme mệnh giá 100.000đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam
- 21 tờ tiền Polyme mệnh giá 50.000đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam
Tại bản kết luận giám định số 45/KLGĐ - CAT- PC09 ngày 02/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: Chất dạng tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong ghi tên Lê Văn T gửi giám định có tổng khối lượng 0.60g (Không phẩy sáu mươi gam) là ma túy loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 15/CT- VKS ngày 29/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình truy tố Lê Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra Lê Văn T thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bản thân.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đúng với lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thừa nhận hành vi đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân truy tố. Tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc phân tích lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, cùng tang vật thu giữ; có đủ có sở xác định Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249 ; điều 38; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Áp dụng khoản 1 điều 47; khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên (về vật chứng). Đề nghị về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T đã khai nhận đã có hành vi cất giữ trong túi bên trái áo khoác mặc trên người 0,60gram ma túy loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận của bị cáo đúng với Biên bản phạm tội quả tang, biên bản lời khai của bị cáo, lời khai nhân chứng tại cơ quan điều tra; phù hợp với chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Lê Văn T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cất giữ Heroine bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm đã xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ chất ma túy; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội và tính mạng sức khoẻ con người, ảnh hưởng đến sự phạt triển bình thường của nòi giống. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điều 249 Bộ luật hình sự.
.Về nhân thân: Ngày 12/4/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2013 về tội “Trộm cắp tài sản”.
.Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm (s) khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự .
Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, với đặc điểm nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên cần có mức án thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện ma túy hoàn toàn, đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
. Xét về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã áp dụng các quy định của pháp luật hình sự được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc đã truy tố bị cáo Lê Văn T theo tội danh và điều luật áp dụng tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKSTL ngày 29/5/2020 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Ngày 06/5/2020 và ngày 28/5/2020 cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Tân Lạc đã xử lý vật chứng chuyển trả những vật chứng sau đây cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La để xử lý theo thẩm quyền:
- 01 xe máy BKS 26B2-208.76 nhãn hiệu HONDA VISION màu sơn đen đỏ; số máy RLHJF5812GY516921; số khung JF66E0789562
- 01 biển kiểm soát xe máy số 26B2-269.08
- 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 042821; biển số đăng
ký 26B2-269.08; tên chủ xe Hoàng Thị Yến; nhãn hiệu xe: HODA
VISION; màu sơn: Đen đỏ; cấp ngày 22/01/2018
- 01 cờ lê kim loại màu trắng, một đầu 10mm, một đầu 12mm
- 01 vam kim loại hình chữ T
- 04 thanh kim loại hình lục lăng, một đâu bằng và một đầu mài thành lưỡi
hai bên
- 29 tờ tiền Polyme mệnh giá 100.000đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam
- 21 tờ tiền Polyme mệnh giá 50.000đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam. Hội đồng xét xử không xem xét, đề cập đến vật chứng đã chuyển
trả cho cơ quan cảnh sát Điều tra công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý:
1/ Số ma túy còn lại sau giám định là chất cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy;
2/ 01 thẻ căn cước công dân số 022093004535 mang tên Lê Văn T; cấp ngày 01/7/2019; nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen; số IMEI 1: 358131092085373; số IMEI 2: 358132092085371. Xét giấy tờ, tài sản trên bị cáo không dùng làm công cụ, phương tiện để thực hiện phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo Lê Văn T.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Lê Văn T tại khu vực bản Co Tang, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Cơ quan điều tra không xác định được đối tượng nào như bị cáo khai báo nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Lê Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 331, Điều 333, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Xử phạt Lê Văn T 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2020
Vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phòng bì niêm phong vật chứng hoàn lại sau giám định ma túy mang tên đối tượng Lê Văn T. Mép dán có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
- Trả lại cho Lê Văn T 01 thẻ căn cước công dân số 022093004535 mang tên Lê Văn T; cấp ngày 01/7/2019; nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen; số IMEI 1: 358131092085373; số IMEI 2: 358132092085371.
Hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án huyện Tân Lạc theo Biên bản giao nhận vật chứng số 016/BB ngày 19/5/2020 giữa Cơ quan Công an huyện Tân Lạc và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Lạc.
Án phí: Bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Tân Lạc; - Công an huyện Tân Lạc; - Chi cục THA dân sự huyện Tân Lạc; - Bị cáo - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký tên, đóng dấu) Hà Thị Yến |