- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn Đ pt Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2020/HSST Ngày: 16/6/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI - TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Văn Tiên
2. Bà TrầnThị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Ninh Hải - tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa:
Ông Tài Đại Diện - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2020, tại phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2020/HSST ngày 07/5/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXXST-HS ngày 04/6/2020, đối với bị cáo:
VÕ VĂN Đ, sinh ngày 06/3/2001. Nơi sinh: NT. Nơi cư trú: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Nghề nghiệp: Không. Trình độ văn hóa: 6/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Võ Văn P (đã chết) và bà Lê Thị L sinh năm: 1972. Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/12/2019 đến ngày 06/01/2020 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Ninh Hải. (Có mặt)
- Người làm chứng:
1. Anh Phạm Văn T, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận
2. Anh Thái Văn H, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9 giờ 10 phút ngày 31 tháng 12 năm 2019, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Phạm Văn T gọi điện vào số 0913460051 của Võ Văn Đ hỏi mua 01 tép ma túy giá 300.000 đồng. Do có sẵn ma túy nên Đ đồng ý và hẹn T đến nhà ở thôn A, xã X để lấy ma túy. Khi T và Đ đang giao dịch mua bán ma túy thì bị Công an tỉnh Ninh Thuận bắt quả tang và thu giữ của Phạm Văn T số tiền 300.000 đồng; thu giữ trên tay của Võ Văn Đ 01 gói nylon hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; thu trong túi quần của Đ một gói thuốc lá Jet bên trong có 03 tép nylon được hàn kín có chứa chất tinh thể màu trắng và hai điện thoại di động (01 cái hiệu Nokia, 01 cái hiệu OPPO). Quá trình điều tra Đ khai đối với số ma túy trên do Nguyễn Văn H cung cấp để cho Đ bán.
Tại bản Kết luận giám định số: 27/KLGĐ ngày 03/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận kết luận:
Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 01 (một) bịch nylon được hàn kín (ký hiệu M1) và chất rắn dạng tinh thể trong 03 (ba) bịch nylon được hàn kín (ký hiệu M2) là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3489g.
Hoàn lại đối tượng gửi sau giám định là: 0,2685g.
Quá trình điều tra, Võ Văn Đ khai nhận ngoài lần bán trái phép chất ma túy cho Phạm Văn T bị bắt quả tang ngày 31/12/2019, thì trước đó Đ đã 03 lần bán trái phép chất ma túy cho Phạm Văn T và 01 lần bán cho Thái Văn H ở thôn A, xã X, huyện N. Cụ thể như sau:
- Lần 1: Khoảng 10 giờ ngày 09/12/2019, Võ Văn Đ bán cho T một tép ma túy với giá 200.000 đồng tại nhà Đ.
- Lần 2: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 23/12/2019, Võ Văn Đ bán cho T một tép ma túy với giá 300.000 đồng tại nhà Đ, T đưa cho Đ 290.000 đồng, thiếu 10.000 đồng.
- Lần 3: Khoảng trưa ngày 25/12/2019, Võ Văn Đ bán cho T một tép ma túy giá 200.000 đồng tại khu vực trước nhà Đ.
- Lần 4: Ngày 30/12/2019, Võ Văn Đ bán cho Thái Văn H một tép ma túy giá 300.000 đồng tại khu vực nhà Đ.
Tổng số tiền Đ có được từ việc bán trái phép chất ma túy cho Phạm Văn T và Thái Văn H là 990.000 đồng.
Cùng ngày, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ Văn Đ, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Ninh Thuận thu giữ gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 mảnh nylon, 01 đoạn ống hút bằng nhựa được cắt nhọn 01 đầu, 01 cây kéo bằng kim loại, 01 quẹt gas màu hồng.
Tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn H, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Ninh Thuận thu giữ gồm: 01 ống hút nhựa màu trắng, 02 đoạn ống hút nhựa màu trắng được cắt nhọn một đầu, 01 đoạn nỏ thủy tinh, 01 nắp nhựa màu xanh có gắn 01 nỏ thủy tinh và một ống hút nhựa, 07 quẹt gas, 02 cây kéo bằng kim loại.
Tại Cáo trạng số: 09/CT-VKS-NH ngày 07/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải đã truy tố Võ Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội danh như trên và đề nghị HĐXX:
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; Điểm r, s khoản 1 Điều 51, các điều 47, 54 BLHS; Các điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Văn Đ từ 04 năm đến 05 năm; đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.
Bị cáo Võ Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu và không có ý kiến tranh luận gì với Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: “Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội, bị cáo rất hối hận và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo”.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ninh Hải, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn Đ khai nhận vào khoảng 09 giờ 10 phút, ngày 31/12/2019, bị cáo và Phạm Văn T đang thực hiện giao dịch mua bán ma túy tại nhà ở thôn A, xã X thì bị Công an tỉnh Ninh Thuận bắt quả tang. Ngoài ra bị cáo thừa nhận trước đó đã 03 lần bán ma túy cho Phạm Văn T và 01 lần bán ma túy cho Thái Văn H thu được tổng cộng 990.000 đồng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy có thành phần là Methamphetamine là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Do đó, bản cáo trạng 09/CT-VKS-NH ngày 07/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Đ là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Ma túy là một tệ nạn làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội.
. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội tự thú; Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các tình tiết này quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện; ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của BLHS, quyết định xử phạt bị cáo mức hình phạt tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị cáo bị truy tố, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.
. Các vấn đề khác:
- Về nguồn gốc chất ma túy: Bị cáo Đ khai nguồn gốc số ma túy bị cáo bán cho Phạm Văn T và Thái Văn H là do Nguyễn Văn H cung cấp. Qua điều tra, xác minh không đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của Nguyễn Văn H nên cơ quan điều tra không khởi tố. Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với Phạm Văn T và Thái Văn H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi này của T và H không cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra Công an huyện Ninh Hải chuyển xử lý hành chính. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng:
- Tuyên tịch thu tiêu hủy:
+ 01 bộ công cụ sử dụng ma túy đá, 01 quẹt gas màu hồng, 01 cây kéo bằng kim loại, 01 đoạn ống hút bằng nhựa được cắt nhọn 01 đầu, 01 mảnh nylon, 01 ống hút nhựa màu trắng, 02 đoạn ống hút nhựa màu trắng được cắt nhọn một đầu, 01 đoạn nỏ thủy tinh, 01 nắp nhựa màu xanh có gắn 01 nỏ thủy tinh và một ống hút nhựa, 07 quẹt gas, 02 cây kéo bằng kim loại.
+ 01 gói niêm phong bên trong có chất ma túy là mẫu vật hoàn lại sau khi giám định có khối lượng 0,2685 gam, bên ngoài có dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Ninh Thuận, chữ ký và họ tên của Lê Ngọc Thư, Võ Thanh Nam.
-Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 ĐTDĐ hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng bên trong có sim điện thoại số 0913460051 của Võ Văn Đ.
Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/5/2020 giữa Cơ quan điều tra công an huyện Ninh Hải và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải.
-Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) của Phạm Văn T theo ủy nhiệm chi lập ngày 12/5/2020 giữa Công an huyện Ninh Hải và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải.
- Buộc bị cáo Võ Văn Đ nộp lại số tiền 990.000 đồng có được từ việc bán ma túy cho Phạm Văn T và Thái Văn H để sung quỹ nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 47; Điều 54 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Văn Đ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 31/12/2019.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tuyên tịch thu tiêu hủy:
+ 01 bộ công cụ sử dụng ma túy đá, 01 quẹt gas màu hồng, 01 cây kéo bằng kim loại, 01 đoạn ống hút bằng nhựa được cắt nhọn 01 đầu, 01 mảnh nylon, 01 ống hút nhựa màu trắng, 02 đoạn ống hút nhựa màu trắng được cắt nhọn một đầu, 01 đoạn nỏ thủy tinh, 01 nắp nhựa màu xanh có gắn 01 nỏ thủy tinh và một ống hút nhựa, 07 quẹt gas, 02 cây kéo bằng kim loại.
+ 01 gói niêm phong bên trong có chất ma túy là mẫu vật hoàn lại sau khi giám định có khối lượng 0,2685 gam, bên ngoài có dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Ninh Thuận, chữ ký và họ tên của Lê Ngọc Thư, Võ Thanh Nam.
-Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 ĐTDĐ hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng bên trong có sim điện thoại số 0913460051 của Võ Văn Đ.
Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/5/2020 giữa Cơ quan điều tra công an huyện Ninh Hải và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải.
-Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) của Phạm Văn T theo Ủy nhiệm chi lập ngày 12/5/2020 giữa Công an huyện Ninh Hải và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải.
- Buộc bị cáo Võ Văn Đ nộp lại số tiền 990.000 đồng để sung quỹ nhà nước.
4. Về án phí: Bị cáo Võ Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 16/6/2020)./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh NT; - VKSND tỉnh NT; - VKSND huyện NH; - Công an huyện NH (02 bản); - Chi cục THADS huyện NH, THA phạt tù; -Sở Tư pháp NT. - Lưu (hồ sơ, án văn). | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Ngô Thị Trang |