vanban.org

Bản án 12/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hải An, TP. Hải Phòng Tuyên án 08/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Lò Văn S.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy bì thư có dấu hiệu niêm phong số 28/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17 tháng 4 năm 2020 tạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lò Văn S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Lò Văn S.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2020/HS-ST
Ngày 08-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Bích Thủy

Ông Lê Tất Kề.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Kim Oanh - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lê Kim Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2020/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Lò Văn S, sinh ngày 01/01/1989 tại Điện Biên. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: B, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ văn hoá: Lớp 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T và bà Lò Thị P; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 08 tháng 01 năm 2020, đến ngày 14 tháng 01 năm 2020 chuyển tạm giam. Có mặt.

- Người bào chữa: Ông Trần Minh N – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng. Có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Bạc Cầm L. Vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Văn V. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 19h30 ngày 07/01/2020, Lò Văn S nhờ anh Bạc Cầm L (cùng làm thợ xây với S tại Đ, H, Hải Phòng) chở đến khu vực phường Đ 2, quận H, thành phố Hải Phòng để giải quyết việc riêng. Sau đó anh L đã dùng xe máy Honda Wave RS màu đỏ, BKS: 16N6-7713 chở S đến đầu ngõ 33 đường Đ, phường Đ 2, quận H, thành phố Hải Phòng thì S bảo L dừng xe đứng chờ. S đi bộ vào trong ngõ gặp 01 người đàn ông không quen biết hỏi mua Heroine. S đưa cho anh ta 200.000 đồng, anh ta đưa lại cho S 01 vỏ bao thuốc lá 555 trong đó có 01 gói Heroine. S cầm lấy và quay lại chỗ Liêm nhờ chở về lán công trình xây dựng. Khoảng 20h30 cùng ngày, khi L chở S đến trước cửa nhà số 459 đường Đ, phường Đ 2, quận H, thành phố Hải Phòng thì bị lực lượng Công an phường Đ 2 kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của S 01 vỏ bao thuốc lá 555 kích thước 5cmx9cm bên trong có 01 gói nhỏ kích thước 2cmx2,5cm chứa chất bột màu trắng, 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RS màu đỏ, BKS: 16N6-7713.

Kết luận giám định số 28/KLGĐ ngày 09/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng thu của Lò Văn S gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,26gam, là loại Heroine.

Bản cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 16 tháng 4 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lò Văn S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An giữ quyền công tố luận tội:

Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lò Văn S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Căn cứ điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy bì thư niêm phong bên trong có chứa chất heroine, là phần còn lại sau giám định.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn S nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An. Người bào chữa cho bị cáo cũng nhất trí với tội danh và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình mà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An đã nêu trong bản luận tội đối với bị cáo. Tuy nhiên, người bào chữa đề nghị Hội đồng xem xét đến nguyên nhân, hoàn cảnh và điều kiện phạm tội của bị cáo do bị cáo sinh ra và lớn lên tại vùng quê nghèo, lạc hậu, bản thân có trình độ văn hóa thấp nên nhận thức hiểu biết về pháp luật còn hạn chế và dễ bị sa ngã; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ rất ít, chỉ trên mức khởi điểm một chút. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp hơn với mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình, tái hòa nhập cộng đồng và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 07 tháng 01 năm 2020, tại khu vực trước cửa nhà số 459 đường Đ, phường Đ 2, quận H, thành phố Hải Phòng, Lò Văn S bị bắt quả tang khi đang cất giữ bất hợp pháp ở lòng bàn tay phải 01 gói giấy bên trong có chứa chất bột màu trắng được đựng trong vỏ bao thuốc lá 555; theo kết luận giám định là loại heroine, có khối lượng 0,26 gam nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Heroine là chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội, nằm trong Danh mục I, STT 9 ban hành kèm theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ. Việc cố ý cất giữ 0,26 gam heroine của bị cáo không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy; bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và năng lực hành vi nên hành vi đó của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt chính: Bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhưng lại là đối tượng nghiện chất ma túy. Vì vậy, cần buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo có điều kiện cai nghiện, cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng và thuộc hộ nghèo. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Heroine là chất ma túy cấm lưu hành; vì vậy, tịch thu tiêu hủy bì thư niêm phong bên trong có chứa chất heroine, là phần còn lại sau giám định.

Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn đề nghị miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đối với anh Bạc Cầm L là người đã chở S ngõ 33 đường Đ, phường Đ 2, quận Hải An, thành phố Hải Phòng, do không biết S đi mua ma túy nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lò Văn S tại khu vực ngõ 33 đường Đ, phường Đ 2, quận Hải An, thành phố Hải Phòng chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hải An tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS màu đỏ, BKS: 16N6-7713, qua điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Hoàng Anh T, sinh năm 1976; đăng ký hộ khẩu thường trú tại H 3, phường Đ 2, quận H, thành phố Hải Phòng. Anh T để xe cho công nhân đi khi chưa có điều kiện mua xe, không biết việc S sử dụng xe để đi mua ma túy. Ngày 24/3/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hải An đã trả lại chiếc xe máy trên cho anh Hoàng Anh T là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Lò Văn S 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ - ngày 08 tháng 01 năm 2020.

2. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Lò Văn S.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy bì thư có dấu hiệu niêm phong số 28/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17 tháng 4 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).

4. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lò Văn S được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ