vanban.org

Bản án 12/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước Tuyên án 08/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị HV, Hồ Thị L phạm tội “Đánh bạc”.

[3] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy các tờ phơi đề, viết bi, giấy than, sổ sách ghi số đề bị thu giữ khi bắt quả tang và khi khám xét chỗ ở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Hoàng V, Hồ Thị L - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị HV, Hồ Thị L phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỚN QUẢN
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2020/HS-ST
Ngày: 08-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:

Ông Nguyễn Văn Khương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Duy Mạnh

Ông Nguyễn Chí Vương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Sáu - Kiểm sát viên.

Ngày 08/5/2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2020/TLST-HS ngày 02/3/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2020/QĐXXST-HS ngày 24/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản đối với các bị cáo:

Bị cáo thứ 1: Nguyễn Thị HV, sinh năm 1962 tại Bình Phước; Tên gọi khác: Không có; nơi cư trú: Tổ 1, ấp Đ, xã ĐN, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị R; bị cáo có chồng tên là Lê Th và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/10/2019 đến ngày 15/10/2019 bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị cáo thứ 2: Hồ Thị L, sinh năm: 1966 tại Nghệ An. Tên gọi khác: Không có; nơi cư trú: Tổ 2, ấp 2, xã ĐN, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn P và bà Hồ H (Đều đã chết); bị cáo có chồng tên là Hồ Sỹ C (Đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1962. “có mặt”

Trú tại: Tổ 7, ấp Đ, xã ĐN, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

2. Anh Nguyễn TC, sinh năm 1980. “Vắng mặt”

Trú tại: Ấp Bào Trung, xã Bình Minh, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị HV là đối tượng ghi số đề cho nhiều người từ khoảng tháng 3 năm 2019. Cách thức ghi đề là người ghi nhắn tin vào số điện thoại của V, nếu đồng ý V nhắn tin trả lời “Ok”; Hoặc người chơi trực tiếp đến nhà của gia đình V ghi số đề, đến chiều có kết quả xổ số V sẽ trực tiếp tính tiền thắng thua với người chơi, rồi đốt các phơi đề.

Vào khoảng 13 giờ ngày 09/10/2019 Nguyễn TC đến nhà của gia đình V ghi số 39x100 (39 bao lô 100.000đ) với số tiền 1.400.000đ, V đồng ý và ghi phơi đề cho Công. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn C đến nhà của gia đình V ghi số 37 x 100 (37 bao lô 100.000đ), 73 x 100 (73 bao lô 100.000đ), 73-300.300 (73 đầu 300.000đ, đuôi 300.000đ), 32 x 10 (32 bao lô 10.000đ), 32-36.36 (32 đầu 36.000đ, đuôi 36.000đ) và 37-300.300 (37 đầu 300.000đ, đuôi 300.000đ) với tổng số tiền 4.212.000đ. V bớt cho Cho số tiền 212.000đ, chỉ lấy 4.000.000đ. Cùng lúc này, Nguyễn TC đi vào gặp V tiếp tục ghi thêm số 79x20 (79 bao lô 20.000đ) và 79-12.12 (79 đầu 12.000đ, đuôi 12.000đ) với tổng số tiền 304.000đ và V cũng bớt cho Công số tiền 4.000đ, chỉ lấy 300.000đ. Khi V đang nhận tiền và giao phơi đề cho Công và Cho thì bị lực lượng Công an huyện Hớn Quản bắt quả tang, thu giữ số tiền 5.700.000đ cùng các đồ vật, tài liệu khác có liên quan.

Quá trình điều tra vụ án, qua đối chiếu các tin nhắn với kết quả sổ xổ xác định: Vào ngày 02/9/2019, Hồ Thị L sử dụng số 0338.274.352 nhắn tin cho Nguyễn Thị HV với nội dung: “Ghi cho em co 23..63..36.. 12..21..25..52..16..65..96 bao con 20 nhe chi” (nghĩa là 23, 63, 36, 12, 21, 25, 52, 16, 65, 96 bao lô mỗi số 20.000đ, hết số tiền 2.800.000đ). V nhắn tin trả lời: “Ok”. Sau đó, L tiếp tục nhắn tin cho V nội dung: “56 bao 10n” (56 bao lô 10.000đ hết số tiền 140.000đ); “15.55.95 bao con 20 nhe” (15, 55, 95 bao lô mỗi số 20.000đ, hết số tiền 840.000đ). Tổng cộng số tiền L ghi đề là 3.780.000đ. Chiều cùng ngày, đối chiếu kết quả xổ số của đài Tp Hồ Chí Minh có các số 21, 23 và 55 nên L đã thắng V số tiền 4.200.000đ (03 số x 1.400.000đ/số). Hồ Thị L ghi đề nợ nên tiền thắng đề Nguyễn Thị HV vẫn chưa trả cho Hồ Thị L. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Thị HV và Hồ Thị L vào ngày 02/9/2019 là 7.980.000 đồng.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 63/2019/GĐ-TL ngày 25/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước có kết luận: Chữ viết, chữ số trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 – A3 (trừ chữ ký, chữ viết họ tên Nguyễn Thị HV); A4 (trừ chữ ký, chữ viết họ tên Nguyễn Thị HV, Nguyễn Văn C); A5 (trừ chữ ký, chữ viết họ tên Nguyễn Thị HV, Nguyễn TC); A6, A7 (trừ chữ ký, chữ viết họ tên Nguyễn Thị HV); A8 (trừ chữ ký, chữ viết họ tên Nguyễn Thị HV, Nguyễn TC) so với chữ viết, số trên tài liệu mẫu ký hiệu M1 – M6 do cùng một người viết ra.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 37/2019/GĐ-KTS ngày 26/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước có kết luận: Có 564 tin nhắn, gồm 316 tin nhắn đi và 248 tin nhắn đến trong điện thoại gửi đến giám định ký hiệu A (ĐTDĐ Samsung Galaxy J6+ thu giữ của Nguyễn Thị HV).

Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 02/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo Nguyễn Thị HV, Hồ Thị L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị HV, Hồ Thị L phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị HV mức án từ 35.000.000đ đến 40.000.000đ. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Hồ Thị L mức án từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Hớn Quản, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, các Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung mà Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố, như sau: Ngày 02/9/2019 bị cáo Nguyễn Thị HV có ghi số đề cho Hồ Thị L với tổng số tiền 7.980.000đ. Đến ngày 09/10/2019 bị cáo V tiếp tục ghi số đề cho Nguyễn Văn C, Nguyễn TC với tổng số tiền 5.916.000đ thì bị lực lượng công an huyện Hớn Quản bắt quả tang.

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản kiểm tra nội dung điện thoại, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với vật chứng thu giữ được trong vụ án. Như vậy, có đủ sơ sở để kết luận: Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị HV đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức ghi số đề cho Hồ Thị L số tiền 3.780.000đ và 4.200.000đ thua đề, tổng cộng là 7.980.000.000đ; Ghi đề cho Nguyễn Văn C số tiền 4.212.000đ và ghi đề cho Nguyễn TC với tổng số tiền 1.704.000đ đã phạm “Tội Đánh bạc”. Do đó, Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 02/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo Nguyễn Thị HV, Hồ Thị L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

Hành vi của các bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương, là một trong những nguyên nhân gây nên những tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo hiểu được đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, nên cần xử lý bị cáo mức án nghiêm để giáo dục, răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung. Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn nhưng cũng cần phân tích vai trò của từng bị cáo để cá thể hóa hình phạt.

Trong vụ án, bị cáo Nguyễn Thị HV là người có vai trò chính, là chủ ghi đề cho bị cáo L và những người khác chơi, số tiền bị cáo dùng đánh bạc là 13.896.000đ, bị cáo phạm tội hai nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt cao hơn bị cáo Hồ Thị L.

Đối với bị cáo Hồ Thị L là người tham gia đánh đề với bị cáo V, số tiền bị cáo tham gia đánh đề là 3.780.000đ và 4.200.000đ thắng đề, tổng cộng là 7.980.000.000đ, bị cáo có vai trò thứ yếu trong vụ án nên cần xử phạt bị cáo mức án thấp hơn bị cáo V.

Hội đồng xét xử thấy rằng, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà xử phạt bị cáo bằng hình phạt tiền là phù hợp, đảm bảo tính giáo dục và phòng ngừa chung.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị HV, Hồ Thị L phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt tiền đối với các bị cáo là có căn cứ được chấp nhận.

Đối với hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số đề của Nguyễn Văn C, Nguyễn Kim Anh, Phạm Văn Thắm, Nguyễn Bá Đạo chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Do đó, Cơ quan công an huyện Hớn Quản đã xử lý vi phạm hành chính là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý. Đối với Nguyễn TC có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số đề với tổng số tiền 1.704.000đ nhưng hiện đã đi khỏi địa phương, không xác định được đi đâu, cơ quan CSĐT- Công an huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước tiếp tục điều tra xử lý sau. Ngoài ra còn một số đối tượng như Trần Minh Chung, Nguyễn Thành Phiên và một số đối tượng tham gia đánh bạc với Nguyễn Thị HV chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan CSĐT tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau là phù hợp.

Xử lý vật chứng vụ án:

Đối với các tờ phơi đề, bút bi, giấy than, sổ sách ghi số đề bị thu giữ khi bắt quả tang và khi khám xét chỗ ở theo biên bản giao nhận vật chứng là vật chứng của vụ án, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 5.700.000đ và 01 điện thoại di động SAMSUNG GalaxyJ6, màu đỏ, Quá trình điều tra xác định đây là công cụ, phương tiện để bị cáo Nguyễn Thị HV thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, sung công quỹ nhà nước.

Đối với điện thoại di động SAMSUNG DOUS màu trắng, 01 túi xách màu đen, 01 ví màu xám là tài sản của bà Nguyễn Thị HV, Cơ quan CSĐT đã trả lại cho bị cáo V là phù hợp nên không xem xét.

Đối với xe mô tô Dream biển số 72B1-020.31, 01 Điện thoại di động Nokia 105, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn C. Cơ quan CSĐT đã trả lại cho Nguyễn Văn C là phù hợp nên không xem xét.

Đối với số tiền 8.710.000đ thu giữ khi khám xét xác định là tài sản của anh Nguyễn Thành Luân, không liên quan đến vụ án nên cơ quan CSĐT đã trả lại cho anh Luân là phù hơp nên không xem xét.

Riêng đối với số tiền 4.200.000đ bị cáo L thắng bị cáo V, nhưng bị cáo V chưa trả cho bị cáo L nên bị cáo L chưa thu lợi bất chính nên không xem xét để truy thu.

Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị HV, Hồ Thị L phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị HV 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng).

Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Hồ Thị L 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

[3] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy các tờ phơi đề, viết bi, giấy than, sổ sách ghi số đề bị thu giữ khi bắt quả tang và khi khám xét chỗ ở.

Tịch thu, sung công quỹ nhà nước đối với số tiền 5.700.000đ (Năm triệu bảy trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GalaxyJ6, màu đỏ.

(Các vật chứng được liệt kê theo Biên bản giao nhận vật chứng số 0005685 ngày 03/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước).

Án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị HV phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc bị cáo Hồ Thị L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Các Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ