vanban.org

Bản án 12/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 10/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Hà Anh V phạm tội „„Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Hà Anh V 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 24 tháng 9 năm 2019. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hà Anh Vũ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hà Anh V phạm tội „„Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2020/HS-ST
Ngày: 10/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Trọng Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Đình Nhân

Bà Nguyễn Thị Ngọc

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hoàng - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 196/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Hà Anh V, sinh năm: 1987; nơi đăng ký hộ khẩu: số 445 đường T, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; con ông: Lê Văn L, sinh năm 1965 và con bà: Hà Thị K(đã chết); anh chị em ruột: có 02 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1993; vợ: Trần Hoàng Q, sinh năm 1997 (không có đăng ký kết hôn); con: Lê Trần An N, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; ngày 24/9/2019 bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 24/9/2019, Công an huyện Đ tiến hành kiểm tra phòng số 204 nhà nghỉ Hoàng T tại đường T, tổ 25, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tại thời điểm kiểm tra trong phòng 204 có 03 đối tượng là Lê Hà Anh V, Lục Quế T, Thoóng Trần Mỹ D đang cùng ở trong phòng. Tiến hành kiểm tra đối tượng Lê Hà Anh V, lực lượng Công an phát hiện trong túi quần bên hông phải của chiếc quần jean mà V đang mặc trên người có 01 bịch nylon màu trắng đựng bên trong 03 gói nylon đều có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Kiểm tra Lục Quế Th và Thoóng Trần Mỹ D lực lượng Công an không phát hiện gì. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Hà Anh V, niêm phong 01 bịch nylon màu trắng đựng bên trong 03 gói nylon đều có chứa bên trong chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy để gửi giám định.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo Lê Hà Anh V khai nhận: vào ngày 23/9/2019, bị cáo đến khu vực gần Huyện đoàn Đức Trọng gặp một người thanh niên tên Dũng (hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch) và mua 03 gói ma túy trên với số tiền 5.000.000đ, mục đích mua để sử dụng cho bản thân.

Tại bản kết luận giám định số 1451/GĐ – PC09 ngày 27/09/2019 của Phòng Kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng xác định: mẫu tinh thể đựng trong 03 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 18,7542g, loại Methamphetamine (Methamphetamine là chất ma túy, nằm trong danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ).

Khi bắt quả tang bị cáo V, cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ các vật chứng sau:

- 03 gói nylon nghi ma túy.

- 01 ĐTDĐ Iphone màu xám loại màn hình cảm ứng.

Số ma túy còn lại sau giám định cùng chiếc điện thoại di động hiện đã bàn giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ chờ xử lý.

Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 – BLHS.

Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 04 tháng 12 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Lê Hà Anh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo Lê Hà Anh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Hà Anh V từ 07 đến 08 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 để giải quyết theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo khai nhận: Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 24/9/2019, Công an huyện Đ tiến hành kiểm tra phòng số 204 nhà nghỉ Hoàng T tại đường T, tổ 25, L, Đ, Lâm Đồng thì phát hiện bị cáo cùng Lục Quế T, Thoóng Trần Mỹ D đang cùng ở trong phòng. Công an phát hiện trong túi quần bên hông phải của chiếc quần jean mà bị cáo đang mặc trên người có 01 bịch nylon màu trắng đựng bên trong 03 gói nylon đều có chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy. Tại bản kết luận giám định số 1451/GĐ – PC09 ngày 27/9/2019 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng xác định: mẫu tinh thể đựng trong 03 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 18,7542g loại Methamphetamine (Methamphetamine là chất ma túy, nằm trong danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ).

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Như vậy đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lê Hà Anh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được ma túy là chất gây nghiện và biết rõ tác hại của ma túy sử dụng sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự phát lành mạnh của con người nhưng vẫn tàng trữ số lượng lớn để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, hành vi đó còn làm gia tăng các tệ nạn xã hội nhưng vì để thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo đã bất chấp thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thể hiện tính xem thường pháp luật. Do vậy, hành vi của bị cáo phải bị xử phạt nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện và phòng ngừa chung đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội ngày càng có chiều hướng gia tăng hiện nay.

Xét về nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự; tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; bị cáo là lao động chính trong gia đình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.

Từ những phân tích nhận định trên, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và mang tính răn đe, giáo dục phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về vật chứng của vụ án:

- 01 phong bì màu trắng dán kín, niêm phong số 1451/2019/PC09 “mẫu hoàn m = 16,7721g”, có đóng dấu đỏ của phòng kĩ thuật hình sự; 01 phong bì màu trắng dán kín, niêm phong số 1451/2019/PC09 “Bao gói”, có đóng dấu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự. Xét đây là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động Iphone màu xám loại màn hình cảm ứng bị cáo không dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Lê Hà Anh V phạm tội „„Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Hà Anh V 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 24 tháng 9 năm 2019.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì màu trắng dán kín, niêm phong số 1451/2019/PC09 “mẫu hoàn m = 16,7721g”, có đóng dấu đỏ của phòng kĩ thuật hình sự; 01 phong bì màu trắng dán kín, niêm phong số 1451/2019/PC09 “Bao gói”, có đóng dấu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự của Công an tỉnh Lâm Đồng.

- Trả lại cho bị cáo Lê Hà Anh V 01 điện thoại di động Iphone màu xám loại màn hình cảm ứng (không kiểm tra chất lượng bên trong).

(Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26 tháng 11 năm 2019)

Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Hà Anh V phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ