vanban.org

Bản án 12/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Huỳnh Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc Q. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Huỳnh Linh D, sinh ngày 07/02/2018 cho chị Huỳnh Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Nguyễn Ngọc Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Huỳnh Thị H, anh Nguyễn Ngọc Q ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Huỳnh Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 07 - 5 – 2020
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Tâm và bà Phan Thị Liên

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa tỉnh Phú Yên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 16/2020/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 14/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/4/2020 giữa:

Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị H – sinh năm 1983. Có mặt.

Nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk.

Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc Q – sinh năm 1969. Có mặt.

Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Huỳnh Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại UBND xã H năm 2017. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã ly thân nhau gần một năm, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, do đó chị Huỳnh Thị H xin ly hôn với anh Nguyễn Ngọc Q.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Huỳnh Linh D – sinh ngày 07/02/2018. Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, con chung do chị H nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Ngọc Q trình bày: Thống nhất với chị Huỳnh Thị Hoà về quan hệ hôn nhân, con chung và về tài sản chung, nợ chung. Quá trình chung sống, vợ chồng không có mâu thuẫn gì trầm trọng, nhưng vì kinh tế gia đình nên chị H về Đăk Lăk để sinh sống. Nay chị H xin ly hôn, anh Q không đồng ý và xin đoàn tụ. Nếu ly hôn, anh Q yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét ý kiến trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thẩm quyền: Quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn”, bị đơn anh Nguyễn Ngọc Q có hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã H, huyện T, Phú Yên, căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 BLTTDS 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

2. Về nội dung vụ án

Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng tự nguyện tìm hiểu đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại UBND xã H vào năm 2017 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm sống, chị H và anh Q đã sống ly thân gần một năm, trong khoảng thời gian trên, các đương sự không quan tâm nhau, không chủ động để giải quyết mâu thuẫn để hàn gắn tình cảm gia đình. Tại phiên tòa, chị H kiên quyết yêu cầu được ly hôn với anh Q. HĐXX xét thấy, hiện nay vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn ly hôn của chị H.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Linh D, sinh ngày 07/02/2018, từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, con chung do chị H nuôi dưỡng; bên cạnh đó con chung chưa đủ 36 tháng tuổi, do đó cần tiếp tục giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung để cháu phát triển bình thường. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết nên HĐXX không xem xét.

3. Về án phí: Chị Huỳnh Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí HNGĐ-ST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227 BLTTDS năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Huỳnh Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc Q.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Huỳnh Linh D, sinh ngày 07/02/2018 cho chị Huỳnh Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Nguyễn Ngọc Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết nên HĐXX không xem xét.

4. Về án phí: Chị Huỳnh Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí HNGĐ sơ thẩm, đã nộp đủ tại biên lai thu tiền số AA/2015/0014490 ngày 03/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ