- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Hải A được ly hôn với anh Long Thanh C.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƢƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2020/HNGĐ-ST Ngày: 17-4-2020 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƢƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Tươi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Văn Thư
2. Bà Nguyễn Thị Lợi
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Cán bộ Toà án huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 463/2019/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2019 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2020/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Hải A; cư trú tại: Đội 7, thôn A, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai; vắng mặt (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Long Thanh C; cư trú tại: Thôn V, xã Đ, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn, tại bản tự khai và quá trình tố tụng nguyên đơn là chị Phạm Thị Hải A trình bày:
Chị và anh Long Thanh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng vào năm 2006. Sau khi kết hôn vợ chồng chị về sống tại gia đình anh Cường ở thôn V, xã Đ, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc một thời gian đến đầu năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp dẫn đến vợ chồng thường hay xảy ra cãi vã nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên khuyên giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ tại thôn A, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai sống, vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2012, không ai còn quan tâm và có trách nhiệm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mâu thuẫn đã nghiêm trọng kéo dài, vợ chồng sống ly thân, hai bên không thể hàn gắn đoàn tụ nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Long Thanh C.
Về con chung: Chị và anh Long Thanh C có 01 con chung là Long Thanh B, sinh ngày 26 tháng 5 năm 2009. Từ khi ly thân con chung do anh Cường nuôi dưỡng. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con chung cho anh Long Thanh C trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn, về cấp dưỡng nuôi con chung chị và anh Cường tự thỏa thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị và anh Long Thanh C không có tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Long Thanh C:
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập anh Long Thanh C đến Toà án để trình bày quan điểm của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Hải A song anh Long Thanh C đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự: Xét xử tập thể, công khai, trình tự thủ tục tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với nguyên đơn đã chấp hành các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã vi phạm Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, không tham gia tố tụng trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án của Tòa án.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp và do Tòa án thu thập, lời khai của các đương sự tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; Các điều 51,56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử: cho chị Phạm Thị Hải A được ly hôn với anh Long Thanh C.
Về con chung: Giao con chung Long Thanh B, sinh ngày 26 tháng 5 năm 2009 cho anh Long Thanh C trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn, về cấp dưỡng nuôi con chung, không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Phạm Thị Hải A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
Xét về việc vắng mặt của nguyên đơn chị Phạm Thị Hải A và bị đơn anh Long Thanh C:
Đối với nguyên đơn chị Phạm Thị Hải A: Quá trình giải quyết vụ án, ngày 31tháng 3 năm 2019 chị Phạm Thị Hải A có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử, căn cứ vào khoản 1, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Phạm Thị Hải A.
Đối với bị đơn anh Long Thanh C: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành các trình tự giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án đã giao và gửi thông báo thụ lý vụ án, giấy báo và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh Long Thanh C theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự song bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn anh Long Thanh C.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ vào chứng cứ do đương sự cung cấp và các chứng cứ do Toà án thu thập đã có đủ cơ sở xác định lời khai của chị Phạm Thị Hải A về thời gian, điều kiện kết hôn và quá trình chung sống giữa hai bên là đúng sự thật. Mâu thuẫn vợ chồng được thể hiện ở việc trong quá trình chung sống hai bên thường xuyên va chạm, bất hòa, không có hạnh phúc và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2012 đến nay, không ai còn quan tâm và trách nhiệm đến nhau nữa. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về tính cách. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần báo anh Long Thanh C đến để hòa giải tìm cách khắc phục mâu thuẫn giữa anh C và chị Hải A. Tuy nhiên anh Cường đều vắng mặt không có lý do, không tham gia phiên hòa giải để hai bên hàn gắn đoàn tụ. Bản thân chị Hải A xác định chị không còn tình cảm vợ chồng, không thể quay về đoàn tụ cùng anh C và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Long Thanh C.
Xét thấy tình trạng mâu thuẫn giữa chị Phạm Thị Hải A và anh Long Thanh C kéo dài và trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn do đó yêu cầu xin ly hôn của chị Hải Anh với anh Cường là có cơ sở cần được chấp nhận để giải phóng cho hai bên khỏi sự ràng buộc bởi quan hệ hôn nhân. Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị Phạm Thị Hải A được ly hôn với anh Long Thanh C.
Về con chung: Chị Phạm Thị Hải A và anh Long Thanh C có 01 con chung là Long Thanh B, sinh ngày 26 tháng 5 năm 2009. Việc nuôi dưỡng con chung là quyền đồng thời là nghĩa vụ của cha mẹ. Quá trình giải quyết vụ án chị Phạm Thị Hải A có quan điểm từ khi ly thân con chung đều do anh Long Thanh C nuôi dưỡng nên tiếp tục giao con chung Long Thanh B cho anh Cường trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị và anh Cường tự thỏa thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Long Thanh C không có lời khai, không có mặt tại phiên tòa nên không có quan điểm của anh C về con chung. Xét quan điểm của chị Hải A đưa ra là tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của con chung nên giao con chung Long Thanh B cho anh Long Thanh C nuôi dưỡng sau ly hôn, về cấp dưỡng nuôi con chung, Tòa án không xem xét giải quyết. Sau này nếu hai bên có tranh chấp, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Hải A có quan điểm chị và anh Long Thanh C không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết còn anh Cường không có quan điểm gì. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét về tài sản chung, sau này nếu hai bên có tranh chấp Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
Về án phí: Chị Phạm Thị Hải A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các điều 28, 70, 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 39 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 6, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Hải A được ly hôn với anh Long Thanh C.
2. Về con chung: Giao con chung Long Thanh B, sinh ngày 26 tháng 5 năm 2009 cho anh Long Thanh C trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị Phạm Thị Hải A và anh Long Thanh C tự thỏa thuận, Tòa án không xem xét giải quyết. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi nếu không có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Phạm Thị Hải A phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Chị Phạm Thị Hải A đã nộp đủ số tiền án phí ly hôn sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương (Biên lai thu tiền số 0004608 ngày 17 tháng 12 năm 2019) nên không phải nộp nữa.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TANDTP Hải Phòng; - VKSND huyện An Dương; - Chi cục THADS huyện An Dương; - UBND xã Đ (nơi ĐKKH); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Tƣơi |