- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn Trương Thị Kim Th - Phạm Thanh B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Kim Th đối với anh Phạm Thanh B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 12/2020/HNGĐ-ST Ngày 02 - 6 - 2020 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thành Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh Hồng;
2. Bà Võ Thị Tuyết Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Xuân – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 tháng 5 và ngày 02 tháng 6 năm 2020; tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 64/2020/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2020; về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2020/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Kim Th, sinh năm: 1988 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện Th, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Phạm Thanh B, sinh năm: 1987 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Tr, xã T, huyện Th, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
1. Bà Lâm Thị H, sinh năm: 1961 (Vắng mặt);
2. Ông Lâm Văn H, sinh năm: 1966(Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp Tr, xã T, huyện Th, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp – hòa giải và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Trương Thị Kim Th trình bày: Chị và anh B tự tìm hiểu với nhau, nhưng không được cha mẹ chị chấp nhận; sau đó chị về chung sống với anh B vào năm 2006 tại nhà cha mẹ của anh B tại xã Ph. Đến ngày 19/02/2008 chị và anh B đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện Th, tỉnh Đồng Tháp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc; nhưng sau đó anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng với nhau, thường xuyên cãi vả; anh B thường xuyên chơi đá gà, đánh bài, không chăm lo cuộc sống gia đình, còn đánh chị và không tôn trọng cha mẹ chị, như việc anh B nhiều lần nói tục và chửi thề đối với cha mẹ chị; chị đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh B không sửa đổi, nên tình cảm vợ chồng bị sứt mẻ không hàn gắn được. Do đó, chị và anh B ly thân vào tháng 4/2011, khi ly thân chị về nhà cha mẹ tại ấp H, xã T, huyện Th sinh sống, còn anh B và cháu Q vẫn sinh sống tại ấp Tr, xã T, huyện Th, tỉnh Đồng Tháp đến nay. Hiện nay anh chị đã ly thân đã 09 năm mà không hàn gắn tình cảm được, hiện nay mỗi người đều có cuộc sống và công việc riêng ổn định, nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B theo quy định pháp luật.
Về con chung: Chị và anh B có 01 con chung tên Phạm Thanh Q, sinh ngày 19/7/2007 hiện đang sống với anh B; chị thống nhất giao cho anh B được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Q đến khi cháu Q đủ 18 tuổi, chị không thống nhất cấp dưỡng nuôi con. Vì trước đây chị đã nhiều lần mang quà và tiền đến cho cháu Q thì đều bị anh B và gia đình ngăn cản không cho cháu Q nhận; đồng thời, xua đuổi không chị đến thăm cháu Q.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không có yêu cầu Tòa án giải quyết, để chị và anh B tự thỏa thuận giải quyết với nhau, nếu không thành thì khởi kiện thành một vụ kiện khác.
- Bị đơn anh Phạm Thanh B: Quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho anh Phạm Thanh B các thủ tục tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo mở phiên họp và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa; tuy nhiên, anh B không đến tham gia tố tụng và không trình bày ý kiến cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo mở phiên họp và hòa giải, Thông báo kết quả mở phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đối với anh Phạm Thanh B; nhưng anh B vẫn cố tình vắng vắng mặt không đến tham gia tố tụng và không có văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án. Đối với bà Lâm Thị H, ông Lâm Văn H quá trình thu thập tài liệu chứng cứ, bà H và ông H đã cung cấp lời khai cho Tòa án; nhưng Tòa án đã triệu hợp lệ hai lần, mà bà H và ông H vẫn không đến tham dự phiên tòa. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh B và bà H, ông H là phù hợp theo quy định tại các Điều 227, 228, 229 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nội dung tranh chấp giữa chị Trương Thị Kim Th và anh Phạm Thanh B làm phát sinh “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” được quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình thụ lý giải quyết là đúng theo quy định pháp luật; về thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35, 36, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Th và anh B được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không bị cưỡng ép hoặc lừa dối; anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tại phiên tòa hôm nay chị Th yêu cầu ly hôn với anh B, nhưng anh B không có văn bản trình bày ý kiến về việc ly hôn với chị Th, nên làm phát sinh việc tranh chấp ly hôn theo quy định pháp luật.
Xét thấy, chị Th và anh B đã ly thân từ tháng 4 năm 2011 đến nay (đã 09 năm) mà không có hàn gắn tình cảm lại được; nguyên nhân do anh chị bất đồng ý kiến và thường xuyên cự cải với nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc; hiện nay chị Th và anh B đều có cuộc sống riêng, không còn liên hệ với nhau trong thời gian dài nên tình cảm đã phai nhạt không thể quay lại chung sống với nhau được; do đó, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Th đối với anh B là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Vì vậy căn cứ vào quy định trên, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th đối với anh B là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị Th thống nhất giao cho anh B được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phạm Thanh Q, sinh ngày 19/7/2007, đến khi cháu Q đủ 18 tuổi và không thống nhất cấp dưỡng nuôi con; anh B không có văn bản trình bày ý kiến về việc nuôi dưỡng cháu Q.
Xét thấy, anh B đã trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q từ khi anh chị ly thân đến nay, trong 09 năm qua anh B đã làm tròn nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc cho cháu Q; hiện nay cháu Q đang học lớp 7, cháu Q đã có bản khai và có ý kiến yêu cầu được tiếp tục sống với anh B; ngoài ra, mẹ anh B là bà Lâm Thị H xác nhận anh B nuôi dưỡng cháu Q từ khi cháu Q được 03 tuổi đến nay, hiện anh B đi làm hàng tháng gửi tiền về cho bà nuôi dưỡng cháu Q ăn học. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Th, giao cho anh B được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phạm Thanh Q, đến khi cháu Q đủ 18 tuổi, chị Th khỏi phải cấp dưỡng nuôi con, do anh B không có văn bản trình bày ý kiến, là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Th không có yêu cầu Tòa án giải quyết, để chị và anh B tự thỏa thuận giải quyết với nhau, nếu không thành thì khởi kiện thành vụ kiện khác, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết là phù hợp.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng pháp luật tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Th đối với anh B, về việc yêu cầu ly hôn và nuôi con theo quy định pháp luật.
Chị Th phải chịu án phí ly hôn.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 36, 39, 227, 228, 229 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Kim Th đối với anh Phạm Thanh B.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Kim Th đối với anh Phạm Thanh B.
- Về con chung: Giao cho anh B được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phạm Thanh Q, sinh ngày 19/7/2007, đến khi cháu Q đủ 18 tuổi; chị Th khỏi phải cấp dưỡng nuôi con do anh B không có yêu cầu.
Chị Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Th không có yêu cầu, nên không có xem xét giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Chị Trương Thị Kim Th phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn; được trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số BH/2018/0008368 ngày 17 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Anh Phạm Thanh B không phải chịu tiền án phí ly hôn.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án. Riêng anh Phạm Thanh B được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao (bản án) hoặc kể từ ngày Tòa niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Thanh Bình; - Chi cục THADS H. Thanh Bình; - UBND xã Ph; - Các đương sự; - Lưu Văn phòng và hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thành Triều |