vanban.org

Bản án 12/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Minh K. (Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2018, đăng ký ngày 06/7/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn)

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Bảo A, sinh ngày 03/10/2017 cho chị Bùi Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Minh K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Bùi Thị H không yêu cầu. Anh Nguyễn Minh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H và bị đơn: Anh Nguyễn Minh K"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Minh K. (Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2018, đăng ký ngày 06/7/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn)
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2020/HNGĐ-ST
Ngày 28-8-2020
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nông Thị Huyền Trang;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Khiêm;

Bà Triệu Thanh Thủy.

-Thư ký phiên toà: Ông Nông Đàm Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Hoàng Phương Thảo- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 40/2020/TLST - HNGĐ, ngày 14 tháng 5 năm 2020 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 24 tháng 7 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2020/QĐHPT – HNGĐ, ngày 12/8/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1999, địa chỉ: Thôn N, xã M,

huyện L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh K, sinh năm 1996, địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 05/3/2020, các lời khai sau đó và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày:

Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Minh K được tự do tìm hiểu trong thời gian khoảng một năm, được hai bên gia đình tổ chức hôn lễ theo phong tục và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 06/7/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi kết hôn, anh chị sống cùng gia đình anh Nguyễn Minh K tại thôn K, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng hơn 01 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh Nguyễn Minh K không chuyên tâm làm ăn, chỉ ham chơi game. Chị Bùi Thị H đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng không được. Vì kinh tế gia đình khó khăn nên từ tháng 7/2019, chị Bùi Thị H đi làm công nhân tại Công ty ở Bắc Giang, anh Nguyễn Minh K ở nhà nhưng không tu chí làm ăn, không chăm lo được cho con. Anh chị ly thân từ tháng 02/2020 đến nay. Chị Bùi Thị H xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống, chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Minh K.

Về con chung: Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Minh K có con chung là cháu Nguyễn Thị Bảo A, sinh ngày 03/10/2017. Chị Bùi Thị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến khi con đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh Nguyễn Minh K cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, cháu Nguyễn Thị Bảo A đang sống cùng chị Bùi Thị H và bố mẹ đẻ chị tại thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Lạng Sơn.

Quá trình chung sống anh chị không có tài sản chung gì, không vay nợ ai.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Minh K đã được biết việc Tòa án thụ lý giải quyết vụ án hôn nhân gia đình do chị Bùi Thị H thông báo nhưng không tham gia tố tụng. Qua xác minh tại Công an xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn và tại nhà bố mẹ đẻ anh Nguyễn Minh K, thấy rằng anh Nguyễn Minh K hiện đang sinh sống tại thôn K, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn và đã biết việc chị Bùi Thị H yêu cầu ly hôn nhưng thỉnh thoảng anh lại đi đâu không rõ, không báo cáo chính quyền địa phương. Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã tiến hành niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn anh Nguyễn Minh K đều không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham gia tố tụng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn:

Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Minh K có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm, yêu thương nhau, sống ly thân từ tháng 02/2020 đến nay. Chị Bùi Thị H xin ly hôn với anh Nguyễn Minh K là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi, anh Nguyễn Minh K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Bùi Thị H không yêu cầu. Nguyên đơn chị Bùi Thị H phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Minh K đã được Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng không có mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Minh K theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con vì vậy quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Minh K, cư trú tại thôn K, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Minh K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu nhau và đăng ký kết hôn vào ngày 06/7/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Như vậy, quan hệ hôn nhân của chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Minh K là hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, không còn quan tâm, tin tưởng nhau. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Minh K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng không còn khả năng hàn gắn. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị H là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Minh K có con chung là cháu Nguyễn Thị Bảo A, sinh ngày 03/10/2017. Hiện nay, con chung đang sống với chị Bùi Thị H. Chị Bùi Thị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh Nguyễn Minh K cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, bản thân chị Bùi Thị H có việc làm là công nhân, có thu nhập ổn định khoảng 8.000.000 đồng/ tháng (tám triệu đồng/tháng), đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung. Để đảm bảo đầy đủ về mọi mặt cho trẻ em phát triển toàn diện nên giao con chung là cháu Nguyễn Thị Bảo A, sinh ngày 03/10/2017 cho chị Bùi Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Minh K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Bùi Thị H không yêu cầu. Anh Nguyễn Minh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Chị Bùi Thị H xác định trong thời gian chung sống vợ chồng không có tài sản chung.

Về nợ chung: Chị Bùi Thị H xác định trong thời gian chung sống vợ chồng không vay nợ ai.

Về án phí: Nguyên đơn chị Bùi Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Minh K. (Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2018, đăng ký ngày 06/7/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn)

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Bảo A, sinh ngày 03/10/2017 cho chị Bùi Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Minh K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Bùi Thị H không yêu cầu. Anh Nguyễn Minh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Nguyễn Minh K thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chị Bùi Thị H đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2012/05738 ngày 14 tháng 5 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Chị Bùi Thị H đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ