vanban.org

Bản án 12/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị V T V được ly hôn anh N V C.

Về con chung: Giao con chung tên là N M H, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2013 cho anh N V C trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Giao con chung tên là N T V, sinh ngày 17 tháng 02 năm 2015 cho chị V T V trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị V T V được ly hôn anh N V C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN
DÂN
HUYỆN HƯNG NGUYÊN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 05 - 6 - 2020
V/v: Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Hồng Châu;

2. Bà Nguyễn Thị Nhung.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Hương, cán bộ Toà án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghê ̣ An: Ông Nguyễn Phi Thăng – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 24/2020/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2020/QĐXX-ST ngày 25 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị V T V, sinh năm: 1994; địa chỉ: X K Đ 2, xã H T, huyện H Ng, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Bị đơn: Anh N V C, sinh năm: 1989; địa chỉ: X K Đ 2, xã H T, huyện H Ng, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn ngày 12 tháng 02 năm 2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn chị V T V trình bày: Chị và anh N V C đăng ký kết hôn ngày 18/11/2011 tại UBND xã H T, huyện H Ng, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 7 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng nên vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 7/2019 đến nay. Xác định tình cảm không còn nên chị xin được ly hôn với anh N V C. Về con chung: Vợ chồng có 2 con chung tên là N M H, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2013 và N T V, sinh ngày 17 tháng 02 năm 2015. Vợ chồng ly hôn chị có nguyện vọng nuôi con chung tên là N T V và nhường quyền nuôi con chung tên là N M H cho anh N V C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào. Về tài sản và các khoản nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên Tòa chị V T V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tại bản tự khai ngày 13/5/202, bị đơn anh N V C trinh bà y và xác nhận:

̀ Về thờ i gian, điều kiê ̣n kết hôn, về số con, ngày tháng năm sinh của con chung đúng như chị V trình bày. Tuy nhiên, theo a C thì sau khi kết hôn cho đến nay cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng vẫn diễn ra bình thường. Trong thời gian 3 năm chị V đi lao động tại Thái Lan, chị vẫn về nhà thường xuyên. Nhưng đến nay chị V sau khi đi làm ở Thái Lan về chị đã làm đơn xin ly hôn anh, bản thân anh không đồng ý. Về con chung: Anh có nguyện được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và khoản nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27, 28, 35, 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị V T V được ly hôn anh N V C. Về con chung: Giao con chung tên là N M H, sinh ngày 06/01/2013 cho anh N V C trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Đề nghị giao con chung tên là N T V, sinh ngày 17/02/2015 cho chị V T V trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị V và a C. Về án phí: Buộc chị V T V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên Toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung”. Bị đơn anh N V C có hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại X K Đ 2, xã H T, huyện H Ng, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng a C vẫn vắng mặt tại phiên Tòa. Đây là lần thứ hai a C vắng mặt. Nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyê ̣n Hưng Nguyên, tỉnh Ngệ An tiến hành xét xử vắng mặt a C là đúng quy đi ̣nh pháp luâ ̣t.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị V T V và anh N V C đăng ký kết hôn ngày 18/11/2011 tại UBND xã H T, huyện H Ng, tỉnh Nghệ An không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống ha ̣nh phúc được 7 năm thi xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp̀ nhau. Quá trình giải quyết, a C không đồng ý ly hôn và mong muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập a C lên để hòa giải nhưng a C không hợp tác và không có mặt để hòa giải. Điều đó chứng tỏ a C không có thiện chí tham gia hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ với nhau.

Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị V T V được ly hôn anh N V C.

. Về con chung: Hô ̣i đồng xét xử xét thấy: Nguyện vọng nuôi con chung của chị V T V và anh N V C là chính đáng. Chị V và a C đều có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Vì vậy, để đảm bảo quyền được trực tiếp chăm sóc con chung của chị Vân, a C và cũng để giảm bớt gánh nặng về kinh tế cho các bên. Cần giao cho chị Vvà a C mỗi người nuôi 01 con là phù hợp. Do cháu N T V còn nhỏ nên giao cho chị V nuôi dưỡng, chăm sóc. Giao con chung tên là N M H cho a C nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp và đúng theo nguyện vọng mong muốn được ở với bố của cháu H. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị V và a C.

. Tài sản và các khoản nợ: Chị V T V và anh N V C không yêu cầu nên Tòa không xem xét.

.Về án phí: Chị V T V phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị V T V được ly hôn anh N V C.

2. Về con chung: Giao con chung tên là N M H, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2013 cho anh N V C trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Giao con chung tên là N T V, sinh ngày 17 tháng 02 năm 2015 cho chị V T V trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị V và a C.

Vì lợi ích mọi mặt của con chung thì các bên đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.

Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị V T V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ mà chị Vđã nộp tại cơ quan Thi hành án Dân sự huyện Hưng Nguyên theo biên lai thu tiền số 0002317 ngày 18 tháng 02 năm 2020. Chị V đã nộp đủ.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ