vanban.org

Bản án 12/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị Nguyễn Hồng N đối với anh Lê Minh C. Chị Nguyễn Hồng N và anh Lê Minh C không còn quyền và nghĩa vụ vợ chồng.

Về con chung: Chị Nguyễn Hồng N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Lê Hồng T, sinh ngày 30-10-2004; Lê Linh D, sinh ngày 12-3-2007. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Anh Lê Minh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh C … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị N yêu cầu ly hôn với anh C, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị Nguyễn Hồng N đối với anh Lê Minh C. Chị Nguyễn Hồng N và anh Lê Minh C không còn quyền và nghĩa vụ vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DMC
TỈNH TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 12-6-2020.
V/v ly hôn, tranh chấp
về nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DMC, TỈNH TN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Minh Châu.

Ông Đoàn Tấn Tiên.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Mai - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện DMC, tỉnh TN.

Đại diện Viện kiểm sát Huyện DMC, tỉnh TN tham gia phiên tòa: Bà Lâm Phượng Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện DMC, tỉnh TN xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2020/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2020 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2020/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hồng N, sinh năm 1987; nơi cư trú: Số nhà 18, tổ 01, ấp TĐ 2, xã SĐ, Huyện DMC, tỉnh TN.

Bị đơn: Anh Lê Minh C, sinh năm 1980; nơi cư trú: Số nhà 18, tổ 01, ấp TĐ 2, xã SĐ, Huyện DMC, tỉnh TN.

- Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 02 năm 2020 và bổ sung trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Chị Nguyễn Hồng N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Minh C tự nguyện quen biết nhau, chung sống với nhau từ năm 2003, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã SĐ, Huyện DMC, tỉnh TN theo số: 04, quyển số 01, ngày 04-02-2005. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gổ, mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng, anh C ghen tuông vô cớ về nhà nhiều lần đập phá đồ đạc trong nhà. Công an xã SĐ có mời anh C lên làm việc tư tưởng và yêu cầu anh C không đánh chị N nữa. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Minh C.

Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Hồng T, sinh ngày 30-10-2004; Lê Linh D, sinh ngày 12-3-2007. Nếu Toà án cho ly hôn, chị yêu cầu nuôi hai con, chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Minh C trình bày: Tại biên bản lấy lời khai ngày 28-02-2020 và tại biên bản hoà giải ngày 02-3-2020 anh C thừa nhận về mối quan hệ hôn nhân như chị N trình bày. Anh và chị N mâu thuẫn do chị N đi làm quán nhậu nên anh không đồng ý, anh có kêu vợ nghỉ làm tại quán nhậu nhưng vợ không nghe, từ đó vợ chồng mâu thuẫn về tình cảm và kinh tế. Anh C thừa nhận khi uống rượu xong về nhà có la rầy. Chị N xin ly hôn, anh không đồng ý ly hôn, anh xin đoàn tụ vì còn thương vợ, con nhưng anh không có giải pháp để hàn gắn tình cảm.

Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Hồng T, sinh ngày 30-10-2004; Lê Linh D, sinh ngày 12-3-2007. Nếu Toà án cho ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện DMC, tỉnh TN phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Quá trình thụ lý, giải quyết cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định; không vi phạm về tố tụng. Anh C đã được Tòa án triệu tập tham dự phiên tòa nhưng anh C vắng mặt không có lý do xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70; 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận yêu cầu của chị N, giao con tên Lê Hồng T, sinh ngày 30-10-2004; Lê Linh D, sinh ngày 12-3-2007 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, nghe đương sự trình bày và hỏi tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh C theo quy định tại khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân Huyện DMC, tỉnh TN.

Anh Lê Minh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 02 nhưng anh vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo Điều 227; 228 Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.

Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh C tự nguyện chung sống với nhau năm 2003, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã SĐ, Huyện DMC, tỉnh TN nên công nhận đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị N, anh C phát sinh mâu thuẫn do anh chị mâu thuẫn về tình cảm, kinh tế, không có tiếng nói chung trong hôn nhân, vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Anh C có nguyện vọng xin đoàn tụ gia đình nhưng anh không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của anh chị tan vỡ do không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Anh chị không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau. Tình cảm vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N về việc xin ly hôn với anh Lê Minh C là có căn cứ.

Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Hồng T, sinh ngày 30-10-2004; Lê Linh D, sinh ngày 12-3-2007. Chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Xét nguyện vọng của cháu Thắm, cháu Dương mong muốn được sống chung với chị N. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị N phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56; 57; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147; 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị Nguyễn Hồng N đối với anh Lê Minh C. Chị Nguyễn Hồng N và anh Lê Minh C không còn quyền và nghĩa vụ vợ chồng.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Hồng N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Lê Hồng T, sinh ngày 30-10-2004; Lê Linh D, sinh ngày 12-3-2007. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Anh Lê Minh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh C thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Hồng N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai thu số 0004190 ngày 14-02-2020 tại Chi cục Thi hành án Dân sự Huyện DMC, tỉnh TN. Ghi nhận Chị Nguyễn Hồng N đã nộp xong.

“Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự”.

Báo cho nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh TN trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ