- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn Y L - Cao Văn M"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Y L đối với anh Nguyễn Văn M.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2020/DSST - HNGĐ. Ngày: 15 - 7 - 2020. V/v: “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Dần
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thiện
2. Bà Trần Thị Phúc Tuệ
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Chi – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình: Ông Phan Quang Phú – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 13/2020/TLST - HNGĐ ngày 17/02/2020 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2020/QĐST- DS ngày 09/6/2020. Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2020/QĐHPT – DSST ngày 23/6/2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Y L, sinh năm: 1994.
Nơi ĐKHKTT: Thôn 3, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Bình.
Hiện tạm trú tại: Thôn T, xã Y, huyện H, tỉnh Kon Tum (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm: 1987.
Địa chỉ: Thôn 3, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 09/01/2020 và bản tự khai ngày 05/3/2020 chị Y L trình bày: Tôi (Y L) và anh Nguyễn Văn M tìm hiểu để đi đến kết hôn với nhau do hai bên hoàn toàn tự nguyện không có ai ép buộc, đã đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện H, tỉnh Kon Tum vào ngày 27/4/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống tại nhà ngoại ở thôn T, xã Y, huyện H, tỉnh Kon Tum được một thời gian thì vợ chồng về quê nội ở tại thôn 3 xã T, huyện H, tỉnh Quảng Bình cho đến nay. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh M không quan tâm đến vợ con đi làm nhưng không đưa tiền về để chị Y L nuôi con, anh M nhiều lần đánh chị Y L mặc dù được gia đình anh em bên nội can ngăn nhưng mâu thuẫn vợ chồng không được cải thiện. Năm 2017 chị Y L bỏ về nhà ngoại ở tại thôn T, xã Y, huyện H, tỉnh Kon Tum, anh Nguyễn Văn M sống tại Thôn 3, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Bình vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Hiện tại tình cảm vợ chồng thực sự không còn nữa, mâu thuẫn không thể khắc phục được nên chị Y L làm đơn xin ly hôn anh Nguyễn Văn M.
Về con chung của vợ chồng: Chị Y L khai vợ chồng có một đứa con chung tên là Nguyễn Gia B, sinh ngày: 01/4/2015 hiện đang sống cùng anh M và bà nội tại Thôn 3, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Bình. Sau khi ly hôn vì hoàn cảnh gia đình, mặt khác từ khi vợ chồng sống ly thân con sống cùng anh M nên chị Y L có nguyện vọng giao con Nguyễn Gia B cho anh Nguyễn Văn M trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, chị Y L sẽ có trách nhiệm và nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng: Chị Y L khai vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Án phí chị Y L đã nộp số tiền 300.000đ nay xin chịu toàn bộ.
Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa đã thụ lý vụ án theo yêu cầu của chị Y L và triệu tập hai bên đương sự đến tại trụ sở Tòa án huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình để giải quyết nhiều lần, nhưng việc triệu tập và thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải chỉ có mặt chị Y L còn anh Nguyễn Văn M vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Y L xin ly hôn anh Nguyễn Văn M cả hai bên đều có hộ khẩu thườn trú tại thôn 3, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Bình. Quá trình giải quyết chị Y L có mặt còn anh Nguyễn Văn M vắng mặt nhiều lần không rõ lý do. Tòa án đã phối hợp với UBND xã T xác minh tại gia đình và địa phương thì anh Nguyễn Văn M có hộ khẩu thường trú tại thôn 3 xã Thanh Thạch hiện đang do công an xã T quản lý, hiện nay anh M không có mặt tại nhà. Xác minh tại nhà bà Nguyễn Thị C là mẹ của anh Nguyễn Văn M trú tại thôn 3 xã T thì được biết vừa qua gia đình đã nhận được giấy triệu tập, Thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải đối với anh Nguyễn Văn M. Anh M hiện làm ăn tự do tại các tỉnh phía Nam không có địa chỉ cụ thể nhưng thường xuyên điện về cho gia đình và hỏi thăm con. Gia đình đã thông báo cho anh M biết việc chị Y L làm đơn xin ly hôn và thông báo các giấy triệu tập, Thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án cho anh M biết về giải quyết nhưng anh M trả lời không về được nên Tòa án không tiến hành hào giải được. Chị Y L vì hoàn cảnh gia đình nên có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án đã mở phiên tòa lần thứ nhất và phải hoản phiên tòa do vắng mặt anh Nguyễn Văn M. Tòa án tiếp tục mở phiên tòa xét xử lần thứ hai anh Nguyễn Văn M vẫn vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn M và chấp nhận đơn đề nghị xét xử vắng mặt của chị Y L.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Y L và anh Nguyễn Văn M tìm hiểu để đi đến kết hôn là do hai bên hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc đã đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, nhưng do trong quá tình chung sống anh M không chăm lo cho vợ con thường xuyên đánh đập chị Y L nên giữa hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn mà không thể khắc phục được chị Y L đã bỏ về nhà ngoại sống và làm ăn vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Y L và anh Nguyễn Văn M thực sự không còn nữa, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, quá trình giải quyết anh M không về và không cung cấp được địa chỉ cụ thể cho Tòa án chứng tỏ anh M cố tình giấu địa chỉ và không hợp tác để giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử xét thấy việc chị Y L xin được ly hôn anh Nguyễn Văn M là có căn cứ phù hợp với các quy định của pháp luật. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để xét xử chị Y L được ly hôn anh Nguyễn Văn M.
Về con chung của vợ chồng: Chị Y L khai vợ chồng có một đứa con chung tên là Nguyễn Gia B, sinh ngày: 01/4/2015 anh M đi làm ăn còn con nhờ bà nội chăm sóc. Sau khi ly hôn chị Y L có nguyện vọng giao con cho anh Nguyễn Văn M trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy cháu Nguyễn Gia B hiện đang sống cùng anh M và bà nội đã ổn định mặt khác bà nội Nguyễn Thị C (mẹ của anh M) củng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi cháu. Chị Y L vì hoàn cảnh khó khăn nên tự nguyện giao con cho anh Nguyễn Văn M chăm sóc và nuôi dưỡng Hội đồng xét xử thấy phù hợp nên cần áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình giao con Nguyễn Gia B, sinh ngày 01/4/2015 cho anh Nguyễn Văn M chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con khôn lớn, trưởng thành.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng chị Y L đồng ý cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ. Hội đồng xét xử thấy chị Y L chưa có việc làm nên chấp nhận mức đóng góp tiền nuôi con hàng tháng theo nguyện vọng của chị Y L là phù hợp vì vậy cần áp dụng các Điều 107, Điều 110 và Điều 116 luật hôn nhân và gia đình buộc chị Y L phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp tiền nuôi con Nguyễn Gia B mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng) cho đến khi con đủ 18 tuổi. Thời gian tính từ tháng 8/2020. Anh Nguyễn Văn M không được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung đối với chị Y L, trường hợp cần thiết vì quyền lợi của con chị Y L có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con .
Về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng: Chị Y L khai vợ chồng chưa có tài sản chung và không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Y L đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0003846 ngày 17/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa nay phải chịu toàn bộ.
Án phí cấp dưỡng nuôi con chị Y L phải chịu 300.000đồng.
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa phát biểu tại phiên tòa đối với Thẩm phán và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo các quy định của pháp luật và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã đảm bảo thực hiện đúng và đủ thành phần theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết chị Y L đều có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án còn anh Nguyễn Văn M được Tòa án triệu tập, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã T và thu thập đầy đủ chứng cứ theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay chị Y L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Văn M vắng mặt tại phiên tòa thứ 2 vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản khoản 1 điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn M và chấp nhận đơn đề nghị xét xử vắng mặt của chị Y L.
Về quan hệ hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để xử chị Y L được ly hôn anh Nguyễn Văn M. Về con chung của vợ chồng chấp nhận nguyện vọng của chị Y L đề nghị áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình giao con Nguyễn Gia B, sinh ngày: 01/4/2015 cho anh Nguyễn Văn M chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con khôn lớn, trưởng thành. Về nghĩa vụ cấp dưỡng đề nghị áp dụng các Điều 107, Điều 110 và Điều 116 luật hôn nhân và gia đình buộc chị Y L phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp tiền nuôi con Nguyễn Gia B mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi con đủ 18 tuổi.Tài sản chung và công nợ không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Án phí dân sự sơ thẩm chị Y L đã nộp số tiền 300.000đ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa nay phải chịu toàn bộ, án phí cấp dưỡng nuôi con chị Y L phải chịu 300.000đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Y L đối với anh Nguyễn Văn M.
Áp dụng khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn M và chấp nhận đơn đề nghị xét xử vắng mặt của chị Y L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử: Chị Y L được ly hôn anh Nguyễn Văn M.
2. Về con chung của vợ chồng: Áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình: Giao con Nguyễn Gia B, sinh ngày: 01/4/2015 cho anh Nguyễn Văn M trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến lúc con khôn lớn, trưởng thành.
3. Áp dụng các Điều 107, Điều 110 và Điều 116 luật hôn nhân và gia đình buộc chị Y L phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp tiền nuôi con Nguyễn Gia B, sinh ngày: 01/4/2015 mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến lúc con đủ 18 tuổi. Thời gian tính từ tháng 8/2020. Anh Nguyễn Văn M không được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung đối với chị Y L, trường hợp cần thiết vì quyền lợi của con chị Y L có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
4. Về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng: Chị Y L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí ly hôn: Chị Y L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền mà chị Y L đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0003846 ngày 17/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Chị Y L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án phí cấp dưỡng nuôi con chị Y L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị Y L và anh Nguyễn Văn M. Tuyên bố chị Y L và anh Nguyễn Văn M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã T, huyện H, tỉnh Quảng Bình.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh QB; - VKSND huyện Tuyên Hóa; - Chi cục THADS Tuyên Hóa; - Các đương sự; - UBND xã T. - Lưu Hồ sơ - Án văn. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Trần Thanh Dần |