vanban.org

Bản án 12/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn Hữu đối với chị Lê Thị

Buộc chị Lê Thị Hằng phải có trách nhiệm thanh toán trả anh Trần Văn Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, anh Hữu có đơn yêu cầu thi hành Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị Dung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn Hữu đối với chị Lê Thị
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 12/2020/DS-ST
Ngày 23 - 6 - 2020
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Sái Đức Trung

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đào.

Bà Nguyễn Thị Minh.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Giáp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

P, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện VKSND huyện P, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Không

tham gia.

Ngày 23 tháng 6 năm 2020, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện P,

tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý theo thủ tục thông thường số: 05/2020/TLST-DS ngày 20 tháng 01 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST - DS, ngày 01 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1987

Địa chỉ: Xóm T, xã Ú, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt)

Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1970

Ông Trần Văn C, sinh năm 1957

Cùng địa chỉ: Xóm K, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trong quá

trình giải quyết các đương sự trình bày như sau:

Nguyên đơn chị D trình bày: Tôi có quen biết với vợ chồng ông C, bà H ở

xóm K, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Vào ngày 13/10/2018, bà H có vay tiền của tôi 100.000.000 đồng, khi vay bà H nói vay tiền để đảo Ngân hàng, bà H có viết giấy vay tiền và có ký xác nhận người vay tiền trong giấy vay. Khi vay không ghi thời hạn trả nợ mà chỉ thỏa thuận miệng khi nào tôi cần thì báo trước cho bà Huyền từ 01 đến 02 tháng, lãi suất thỏa thuận miệng. Bà H đã trực tiếp nhận tiền, còn ông C chồng bà H chỉ ký xác nhận đồng trách nhiệm vào giấy vay tiền cùng với bà H. Đến khi tôi cần tiền, yêu cầu bà H trả tiền nhưng bà H không trả tiền cho tôi. Nay tôi yêu cầu bà H và ông C cùng có trách nhiệm trả tôi toàn bộ số tiền gốc 100.000.000 đồng, tôi không yêu cầu trả lãi suất. Trong thời gian vay, do tôi không gặp bà H thường xuyên nên tôi có nhờ bà H thu tiền lãi giúp, thì bà H đã trả lãi suất cho bà H 02 tháng là 4.000.000 đồng. Sau đó bà H không trả lãi suất cho tôi bất kỳ một đồng tiền lãi nào nữa.

Bị đơn bà H trình bày: Vào ngày 13/10/2018, bà H có gọi tôi đến nhà bà H

để đóng tiền phường, nhưng tôi không có tiền đóng nên bà H gọi điện cho chị D là cháu bà H đến, bảo chị D cho tôi vay số tiền 100.000.000 đồng để tôi đóng tiền phường cho bà H. Tôi đã đóng toàn bộ số tiền 100.000.000 đồng cho bà H. Khi vay có viết giấy vay tiền, giấy vay tiền do bà H đưa mẫu, tôi có viết chữ điền vào mẫu vay tiền và có ký xác nhận vào bên người vay. Thực tế tôi không được cầm tiền về nhà, sau đó tôi có mang giấy vay tiền về nhà bảo chồng tôi là ông Trần Văn C ký vào chỗ đồng trách nhiệm, ông C không được nhìn thấy tiền. Nay chị D khởi kiện, tôi xác định tôi không giao dịch vay tiền với chị D, tôi chỉ nợ tiền phường chị D 100.000.000 đồng. Nay tôi nhất trí trả tiền phường chị D là 100.000.000 đồng, nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, tôi không có khả năng thanh toán ngay cho chị D được, nên tôi đi làm nuôi sống bản thân có tích lũy và sẽ trả dần cho chị D. Chị D có đòi tiền tôi, tôi chỉ khất chứ tôi chứ tôi chưa bao giờ nói không trả. Sau khi vay tiền, chị D có nói với tôi sau này cô cứ trả tiền lãi cho bà H, sau đó tôi có trả lãi cho bà H 02 tháng là 4.000.000đồng.

Bị đơn ông C trình bày: Tôi không vay tiền của bà D, tôi không nợ tiền gì

của bà D, cũng không có trách nhiệm phải trả tiền cho bà D. Tôi có ký xác nhận bà H nợ tiền, còn nợ ai thì tôi không biết, nhưng vào thời điểm đó tôi có nhìn thấy bà D ở ngoài quán nhà tôi. Nay bà D khởi kiện tôi không chịu trách nhiệm về khoản nợ đó. Nay xem giấy vay tiền cụ thể thì về lý bà H có nợ tiền phường bà D, nên đề nghị để bà H đi làm có tích lũy sẽ trả dần cho bà D.

Quá trình giải quyết Toà án đã tiến hành hoà giải, xong các bên vẫn giữ

nguyên quan điểm không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên phải đưa vụ án ra xét xử ngày hôm nay.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị D vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu bà H và

ông C trả số tiền nợ gốc là 100.000.000đồng và yêu cầu trả lãi suất là 10%/năm kể từ ngày 01/01/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm 23/6/2020.

Tại phiên tòa bị đơn bà H thừa nhận có vay của chị D 100.000.000đồng để

đóng tiền phường cho bà H, chứ không vay tiền của chị D như trình bày nêu trên, bà Huyền không đồng ý trả nợ gốc và lãi suất như chị D yêu cầu.

Tại phiên tòa bị đơn ông C: Tôi không vay tiền của bà D, tôi không nợ tiền

gì của bà D, cũng không có trách nhiệm phải trả tiền cho bà D. Tôi có ký xác nhận bà H nợ tiền bà D, còn nợ ai thì tôi không biết, nhưng vào thời điểm đó tôi có nhìn thấy bà D ở ngoài quán nhà tôi. Nay bà D khởi kiện tôi không chịu trách nhiệm về khoản nợ đó. Nay xem giấy vay tiền cụ thể thì về lý bà H có nợ tiền phường bà D, nên đề nghị để bà H đi làm có tích lũy sẽ trả dần cho bà D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị D khởi kiện bị đơn bà

H, ông C cùng địa chỉ: xóm K, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn

trả lại số tiền vay 100.000.000đồng theo giấy vay tiền ngày 13/10/2018 cho đến nay bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ dẫn đến phát sinh tranh chấp. Đây là vụ án về tranh chấp hợp đồng dân sự, theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã giao các văn bản tố

tụng cho các đương sự, tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành, các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

- Xét thấy, quá trình thu thập tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa các đương

sự đã thừa nhận có giao dịch và ký vào giấy vay tiền, ngày 13/10/2018, bà H thừa nhận có vay của chị D 100.000.000đồng là để đóng tiền phường cho bà H, còn ông C thừa nhận có ký xác nhận trách nhiệm vào giấy vay tiền như đã nêu trên và không đồng ý trả khoản tiền này cho bà D.

- Xét yêu cầu của nguyên đơn: Chị D đã cho bà H vay tiền 100.000.000đồng

và ông C (là chồng bà H) có xác nhận đồng trách nhiệm vào giấy vay tiền ngày 13/10/2018 và có thỏa thuận lãi suất bằng miệng và thực tế bà H đã trả lãi suất 02 tháng 4.000.000đồng đưa cho bà H để trả cho chị D các bên đương sự đã thừa nhận về lãi suất, chị D khẳng định số tiền cho bà H vay có xác nhận trách nhiệm của ông C để đảo Ngân hàng chứ không phải là cho bà H vay tiền phường. Chị D đã thực hiện nghĩa vụ của bên cho vay và đã giao tiền tuy nhiên đến hạn trả nợ bà H và ông C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay là vi phạm. Nay chị D khởi kiện yêu cầu bà H, ông C phải trả số tiền nợ gốc 100.000.000đồng và phải trả lãi suất 10%/năm đối với số tiền nợ gốc, kể từ ngày 01/01/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm 23/6/2020 là 17 tháng 23 ngày. Yêu cầu này của chị D là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, nên cần được chấp nhận.

- Xét yêu cầu của bị đơn: Bà H thừa nhận có vay của chị D số tiền là

100.000.000đồng là để đóng tiền phường cho bà H số tiền này rồi, chứ không vay chị D và không nợ chị D khoản tiền nào khác. Còn ông C chỉ thừa nhận là ký xác nhận khoản vay chứ ông không vay tiền. Tại phiên hòa giải bà H khẳng định chỉ nợ tiền phường chị D 100.000.000 đồng và nhất trí trả tiền phường cho chị D, nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có khả năng thanh toán ngay được, nên tôi đi làm nuôi sống bản thân có tích lũy và sẽ trả dần cho chị D. Nhưng tại phiên tòa bà H và ông C phủ nhận không vay tiền chị D nên không đồng ý trả, nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, nên không có căn cứ để chấp nhận.

- Về lãi suất: Chị D yêu cầu bà H và ông C phải trả lãi suất 10%/năm

(0,83%/tháng) đối với nợ gốc 100.000.000đồng, kể từ ngày 01/01/2019 đến ngày xét xử 23/6/2020 là 17 tháng 23 ngày (100.000.000đ x 0,83/tháng x 17 tháng 23 ngày) = 14.744.800đ (Mười bốn triệu bảy trăm bốn mươi bốn nghìn tám trăm đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận

toàn bộ. Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bà Lê Thị H và ông Trần Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để sung vào ngân sách Nhà nước, như sau: 114.744.800 đ x 5% = 5.737.240 đồng. Hoàn trả lại chị Nguyễn Thị D số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy

định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, Điều 144, 147, 235, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân năm 2015;

Căn cứ vào Điều 116, 117, 357, 463, 465, 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật

dân sự năm 2015; Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D.

2. Về trách nhiệm trả nợ: Buộc bà Lê Thị H và ông Trần Văn C phải trả cho

chị Nguyễn Thị D tiền nợ gốc: 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) và lãi suất là: 14.744.800đ (Mười bốn triệu bảy trăm bốn mươi bốn nghìn tám trăm đồng). Tổng cộng là 114.744.800đ (Một trăm mười bốn triệu bảy trăm bốn mươi bốn nghìn tám trăm đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi

hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Lê Thị H và ông Trần Văn C phải chịu

5.737.240đ (Năm triệu bảy trăm ba mươi bảy nghìn hai trăm bốn mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để sung vào ngân sách Nhà nước. Hoàn lại cho chị Nguyễn Thị D 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Thái Nguyên, theo biên lai số: 0001071 ngày 13 tháng 01 năm 2020.

4. Thông báo về quyền kháng cáo: Có mặt nguyên đơn, bị đơn có quyền

kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên bản án.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ