vanban.org

Bản án 12/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Văn P - Nguyễn Hoàng M"
  • Căn cứ chính? Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 12/2020/DS- ST
Ngày 08/5/2020
V/v: “Tranh chấp đòi lại tài sản ”

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

T A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM T NH B N T E

Với h nh h n i n

ơ h

:

- Th m ph n - Ch t a ph n t a: Ông Trần Thanh Phong

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Bá Đức.

Ông Phạm Văn Nam

- Thư ký ph n t a: Bà Hồ Thị Lài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Ngày 08 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/2020/TLST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2020 về việc “tranh chấp đ lạ tà sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2020/QĐST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 86A ngày 27/4/2020 giữa các đương sự:

* N uyên ơn:

Nguyễn Văn P, sinh 1963; Trú tạ : Khu phố 5, phường phú Kh, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Ông P có văn bản ủy quyền cho ông Nguyễn Văn T, sinh 1971; Trú tại Khu phố 4, phường Phú Kh, thành phố B, tỉnh bến Tre (có yêu cầu xét xử vắng mặt) và Ủy quyền cho Phan Thị Ngọc T, sinh 1996; Trú tại: Ấp Phú L, xã Hưng Khánh Trung B, huyện chợ L, tỉnh bến Tre (có mặt)

* Bị ơn:

Nguyễn Hoàng M, sinh 1964; Trú tại: Ấp Tân A, xã Tân Tr, huyện Mỏ Cày N, tỉnh Bến Tre (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khở k ện và tạ ph n t a, đạ d ện nguy n đơn chị Phan Thị Ng c T trình bày:

Vào ngày 04/10/2011 ông P có cho ông M vay số tiền 360.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng, thời hạn vay 17 tháng phải trả tất nợ gốc, phương thức trả lãi hàng tháng ông M phải trả lãi 10.800.000 đồng, nhưng từ khi vay đến nay ông M không trả nợ gốc và không đóng lãi. Đến ngày 28/5/2013 ông P và ông M thỏa thuận chốt nợ thì tổng số tiền ông M nợ ông P là 543.600.000 đồng (trong đó vốn gốc 360.000.000 đồng, lãi suất theo thỏa thuận tính đến ngày 04/6/2013 là 183.600.000 đồng) và ông P cho ông M trả dần mỗi tháng 50.000 đồng đến khi tất nợ nhưng ông M vẫn không thực hiện.

Nay yêu cầu ông M trả cho ông P số tiền 543.600.000 đồng nêu trên, không yêu cầu tính lãi gì thêm.

Bị đơn ông Nguyễn Hoàng M vắng mặt và cũng không có bất cứ lời trình bày nào trong các giai đoạn tố tụng của Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:

Sau kh ngh n cứu c c tà l ệu có trong hồ sơ vụ n được th m tra tạ ph n t a, căn cứ vào lờ trình bày c a c c đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hộ đồng xét xử nhận thấy:

* Về á dụn há luậ ố ụn :

[1] Về quyền khởi kiện: ông P cho rằng quyền lợi của ông bị xâm phạm bởi hợp đồng vay tài sản giữa ông với ông M nên khởi kiện. Căn cứ khoản 2 điều 68, điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự thì ông P có quyền khởi kiện.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Các bên xác lập giao dịch vào ngày 04/10/2011 đến ngày 28/5/2013 các bên thỏa thuận xác nhận công nợ và tạo điều kiện cho phía bị đơn trả dần hàng tháng. Do đó giao dịch được xem đã xác lập lại kể từ ngày 28/5/2013, do bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả dần hàng tháng, nên quyền lợi của nguyên đơn bị xâm phạm từ ngày 29/6/2013, đến ngày 30/12/2019 nguyên đơn mới thực hiện việc khởi kiện tại Tòa án. Căn cứ điều 429 Bộ luật dân sự 2015 thì thời hiệu khởi kiện trong vụ án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản không còn. Tuy nhiên nguyên đơn vẫn có quyền đòi lại tài sản đã xác lập giao dịch với bị đơn. Do đó quan hệ pháp luật được xác định trong vụ án là: đòi lại tài sản” theo điều 166 Bộ luật dân sự 2015.

[3] Về thẩm quyền giải quyết: Đối với yêu cầu của ông P là tranh chấp đòi lại tài sản. Căn cứ điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự thì loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và nơi cư trú của bị đơn thuộc xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam. Căn cứ điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam thụ lý giải quyết là phù hợp pháp luật.

[4] Bị đơn ông M đã được Tòa án triệp tập xét xử 02 lần hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Văn tặng có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hàng xét xử vụ án.

* Về n i dun iải quyế vụ án:

[1] Việc các bên thỏa thuận giao dịch vay tiền vào ngày 04/10/2011 các bên không có lập hợp đồng cụ thể, không thể hiện rõ số tiền vay, lãi suất và thời gian trả. Tuy nhiên tại biên bản xác nhận công nợ vào ngày 28/5/2013 các bên thể hiện rõ số tiền vay là 360.000.000 đồng và lãi suất 183.600.000 đồng của 17 tháng tính đến ngày 04/6/2013 tương đương số tiền lãi 3%/tháng, bị đơn ông M thừa nhận toàn bộ nghĩa vụ về vốn lãi theo biên bản xác nhận công nợ và biên bản xác nhận công nợ này được chứng thực tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây được xem là sự thỏa thuận lại và là tình tiết sự kiện không cần phải chứng M và do ông M vi phạm nghĩa vụ, nên buộc ông M trả lại cho ông P là phù hợp.

[2] Tuy nhiên tại thời điểm các bên xác lập giao dịch vào ngày 04/10/2011 và tại thời điểm xác nhận công nợ ngày 28/5/2013, lãi suất các bên thỏa thuận chịu sự điều chỉnh tại khỏan 1 điều 476 Bộ luật dân sự 2005, cụ thể lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà Nước công bố đối với loại cho vay tương ứng, theo quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng nhà nước việt Nam thì mức lãi suất cơ bản mà Ngân hàng quy định là 9%/năm tương đương 0.75%/tháng. Do đó lãi suất các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 1.125%/tháng, tương ứng số tiền lãi 4.050.000 đồng/tháng, nên chỉ chấp nhận mức lãi suất nhập vốn để trả theo biên bản xác nhận công nợ ngày 28/5/2013 là 1.125%/tháng x17 tháng với số tiền lãi 68.850.000 đồng, đối với mức lãi suất thỏa thuận vượt không có hiệu lực, nên không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Đối với mức lãi suất kể từ sau ngày 04/6/2013 do đã hết thời hiệu khởi kiện và nguyên đơn không yêu cầu, nên không xem xét.

[3] ông M vi phạm nghĩa vụ, nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Phần lãi suất nguyên đơn yêu cầu không được chấp nhận, nên nguyên đơn phải chịu án phí tương ứng với phần không được chấp nhận.

Vì c c lẽ tr n,

QUY T ĐỊNH:

Áp dụng điều 471, 474, 476 Bộ luật dân sự năm 2005. Điều 166 Bộ luật dân sự 2015.

Áp dụng khoản 4 điều 26 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn P . Buộc ông Nguyễn Hoàng M trả cho ông Nguyễn Văn P số tiền 360.000.000 đồng vốn gốc và 68.850.000 đồng tiền lãi suất. Tổng cộng 428.850.000 (bốn trăm hai mươi tám triệu tám trăm năm mươi ngàn) đồng.

Không chấp nhận yêu cầu của ông P đối với số tiền lãi suất còn lại 114.750.000 đồng.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, khi có đơn yêu cầu thi hành án của ông P, nếu ông M chưa thi hành xong các khoản tiền phải thi hành án thì còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Hoàng M chịu 21.154.000 (hai mươi mốt triệu một trăm năm mươi bốn ngàn) đồng. Ông Nguyễn Văn P chịu -5.737.500 (năm triệu bảy trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm) đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 12.872.000 đồng theo biên lai thu số 0008171 ngày 02/01/2020. Hoàn trả cho ông P số tiền tạm ứng án phí 7.135.500 (bảy triệu một trăm ba mươi lăm ngàn năm trăm) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0008171 ngày 02/01/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam.

Trường hợp bản n, quyết định được th hành theo quy định tạ Đ ều 2 Luật th ành n dân sự năm 2014 thì ngườ được th hành n dân sự, ngườ phả th hành n dân sự có quyền thỏa thuận th hành n, có quyền y u cầu th hành n, tự nguyện th hành n hoặc bị cưỡng chế th hành n theo quy định tạ c c đ ều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật th hành n dân sự năm 2014; thờ h ệu th hành n được thực h ện theo quy định tạ Đ ều 30 Luật th hành n dân sự năm 2014.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ