- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Quốc T tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà đỗ thị H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 12/2020/DS-ST Ngày 28-9-2020 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Vụ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông K’Bar và ông Phạm Xuân Đức
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Duy Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên toà: Bà Lang Thị Tố - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 47/2020/TLST-DS, ngày 08-6-2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXX-ST ngày 26-8-2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc T; địa chỉ: Tổ 2, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
- Bị đơn: Bà Đỗ Thị H; địa chỉ: Thôn 2, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 25-02-2020 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T trình bày: Ngày 13-8-2016, bà Đỗ Thị H vay của ông T tổng số tiền 60.000.000 đồng và hẹn đến ngày 13-8-2017 sẽ trả đủ số tiền đã vay. Khi vay bà H có viết hợp đồng cho cá nhân vay tiền; thời hạn trả tiền là ngày 13-8-2017 nhưng đến nay chị H không trả nợ mà hẹn hết lần này đến lần khác. Nay ông T khởi kiện yêu cầu bà H trả cho ông T tổng số tiền gốc 60.000.000 đồng, không yêu cầu lãi.
Bị đơn bà Đỗ Thị H: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng bà H không hợp tác, không tham gia tố tụng nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của bà H.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa của nguyên đơn đúng quy định pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Đỗ Thị H phải trả cho ông T số tiền đã vay là 60.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T yêu cầu bà Đỗ Thị H, trú tại thôn 2, xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông trả số tiền đã vay 60.000.000 đồng. Vì vậy, tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Đỗ Thị H đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Đỗ Thị H không tham gia các buổi làm việc theo triệu tập của Tòa án nên không cung cấp chứng cứ chứng minh và trình bày ý kiến phản bác lại đối với yêu cầu của nguyên đơn nên bà H phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong tiến hành mở phiên tòa để xét xử vụ án vắng mặt bà H theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc T, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào bản gốc giấy vay tiền nguyên đơn cung cấp tại Tòa án, lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định bà H vay của ông T số tiền là 60.000.000 đồng, không thể hiện lãi suất, thời hạn trả nợ là ngày 13-8-2017; đến hạn thanh toán bà H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho ông T là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay, do đó ông T khởi kiện yêu cầu bà H phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền 60.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự nên chấp nhận.
Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; Khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”
. Xét quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận.
. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bà Đỗ Thị H phải chịu án dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 92, khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 463, 466; khoản 2 Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Quốc T.
Buộc bà Đỗ Thị H phải trả cho ông Nguyễn Quốc T tổng số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí: Buộc bà Đỗ Thị H phải chịu 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho ông Nguyễn Quốc T số tiền tạm ứng án phí 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000957 ngày 25-3-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành 5 án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Glong; - Chi cục THADS huyện Đ; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Quốc Vụ |