- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Nguyễn Văn N - Nguyễn Văn B"
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2020/DS-PT Ngày 19 - 02 – 2020 V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tài sản bị xâm phạm |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thanh Dũng
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Lệ Kiều
Bà Cao Thị Túy Giang
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Phan Thanh Tình – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 158/2019/TLPT-DS ngày 24 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tài sản bị xâm phạm”.
Do bản án Dân sự sơ thẩm số 50/2019/DSST ngày 13 tháng 11 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2020/QĐ-PT ngày 20 tháng 01 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1984.
Cư trú tại: ấp Y, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1992.
Cư trú tại: ấp Y, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt).
Người kháng cáo: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn anh Nguyễn Văn N trình bày: Vào khoảng 18 giờ ngày 23/3/2019, khi anh đang điều khiển máy cắt lúa tại đất ông 5 Đ thuộc ấp y, xã V thì anh Nguyễn Văn B ra chặn lại không cho cắt. Đồng thời, anh B tháo dây thắt lưng (dây nịch) trên người, cầm trên tay, leo lên máy cắt đánh anh chảy máu ở đầu. Anh bỏ chạy khỏi nơi bị đánh 01 đoạn và lấy điện thoại hiệu HUAWEI, model LX2 để trong túi quần điện cho người thân nhưng màn hình điện thoại không có ánh sáng nên không sử dụng được. Sau khi bị đánh anh đi điều trị tại Trung tâm y tế huyện P. Anh bị tổn hại sức khỏe, tài sản, tinh thần nên yêu cầu anh B phải bồi thường cho anh các khoản tiền gồm: Viện phí là 1.500.000 đồng, tiền công lao động do mất thu nhập 10 ngày là 3.500.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần là 20.000.000 đồng, tiền sửa điện thoại là 4.000.000 đồng. Tổng cộng là 29.000.000 đồng. Tại phiên tòa, anh N rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu anh B bồi thường tiền điện thoại 3.300.000 đồng, chỉ yêu cầu 700.000 đồng nên tổng công là 25.700.000 đồng. Ngoài ra, anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết thêm vấn đề nào khác.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn B trình bày: Anh B thừa nhận sự việc xảy ra vào chiều ngày 23/3/2019 như anh N trình bày là đúng. Nguyên nhân, do anh là cò mua bán lúa, hàng năm anh đều mua lúa của bác 5 Đ nhưng năm nay anh T nhà ở H đến mua nên bác 5 Đ không bán cho anh. Vào lúc 18 giờ ngày 23/3/2019 anh thấy máy cắt lúa tại đất của bác 5 Đ nên anh có ra để tìm gặp anh T nói chuyện, nhưng không gặp mà có anh N nên anh kêu anh N xuống khỏi máy cắt để nói chuyện, anh N không xuống nên hai bên có lớn tiếng và đánh nhau. Tuy nhiên, anh chỉ đánh trúng anh N 01 cái vào đầu, không có làm hư điện thoại của anh N. Tại phiên tòa, anh B tự nguyện đồng ý bồi thường thiệt hại sức khỏe cho anh N với số tiền 5.200.000 đồng. Trong vụ án này, anh B không có yêu cầu phản tố.
Từ nội dung trên, Bản án sơ thẩm số 50/2019/DS-ST ngày 13/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu đã quyết định:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 1 Điều 218, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 468, Điều 584, 585, 586, 589, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh N. Buộc anh Nguyễn Văn B có nghĩa vụ bồi thường cho anh N số tiền 5.200.000 đồng
Đình chỉ xét xử do anh Nguyễn Văn N rút một phần yêu cầu khởi kiện đòi anh Nguyễn Văn B bồi thường số tiền 3.300.000 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn N về việc đòi anh Nguyễn Văn B bồi thường tiền sửa điện thoại số tiền 700.000 đồng.
Về án phí: Buộc anh N nộp 150.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P.
Buộc anh Biên nộp 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/11/2019 anh Nguyễn Văn N kháng cáo với nội dung: Yêu cầu anh B bồi thường tiền viện phí 1.500.000 đồng, tiền công lao động 10 ngày 3.500.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 20.000.000 đồng, tiền hư điện thoại 4.000.000 đồng. Tổng cộng là 29.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm anh N rút một phần kháng cáo đối với yêu cầu anh B bồi thường tiền chi phí điều trị 1.500.000 đồng và rút một phần kháng cáo đối với yêu cầu anh B bồi thường tiền điện thoại 3.300.000 đồng, đối với tiền sửa điện thoại chỉ yêu cầu bồi thường 700.000 đồng; các phần khác giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 50/2019/DS-ST ngày 13/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến trình bày của đương sự, phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn anh Nguyễn Văn N trong hạn luật định, đúng quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Quá trình giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn anh N và bị đơn anh B đều xác định vào khoảng 18 giờ ngày 13/3/2019 anh N đang điều khiển máy cắt lúa tại phần đất của ông Đ thuộc ấp y, xã V, huyện P thì anh B dùng dây thắt lưng bằng gia, đầu bằng kim loại đánh trúng vào vùng đầu anh N một cái làm cho anh N bị thương tích. Đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét về trách nhiệm về bồi thường thiệt hại: Thực tế anh B đã dùng sợi dây thắt lưng gây thương tích cho anh N. Theo bản kết luận giám định pháp y số 114/Tgt ngày 26/6/2019 của Trung tâm giám định pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Bạc Liêu kết luận: anh N bị thương tích 01 sẹo ở đỉnh chẩm trái, tỷ lệ thương tích là 01%. Do đó, anh B phải có trách nhiệm bồi thường các khoản chi phí hợp lý cho việc điều trị của anh N.
Xét kháng cáo của anh N, Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với yêu cầu bồi thường tiền thuốc, tiền CT – SCANNER 1.500.000 đồng, anh B đồng ý bồi thường yêu cầu của anh N. Xét thấy đât là sự tự nguyện của anh B nên được chấp nhận. Đối với tiền mất thu nhập do anh N không nằm viện điều trị mà chỉ đến Trung tâm y tế huyện Phước Long khám vào ngày 23/3/2019 lấy thuốc về uống và ngày 28/3/2019 đến Bệnh Viện Thanh Vũ chụp CT-Scanner nên được chấp nhận mất thu nhập 02 ngày, anh B đồng ý bồi thường 700.000 đồng là phù hợp; tiền bù đắp về tổn thất tinh thần, căn cứ khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự chỉ chấp nhận tiền bù đắp tổn thất về tinh thần tương ứng với tỷ lệ thương tích của anh N là 01%, tuy nhiên anh B đồng tự nguyện bồi thường số tiền 3.000.000 đồng là phù hợp nên được ghi nhận. Số tiền sửa điện thoại 700.000 đồng không được chấp nhận do anh N không chứng minh được nguyên nhân anh bị đánh dẫn đến hư điện thoại. Như vậy, có căn cứ chấp nhận các khoản buộc anh B phải bồi thường cho anh N tổng số tiền 5.200.000 đồng như quyết định của bản án sơ thẩm là có căn cứ.
Tại Tòa án cấp phúc thẩm anh Nguyễn Văn N không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh cho kháng cáo, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh N. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giữ y bản án sơ thẩm là có căn cứ nên được chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh N rút một phần kháng cáo đối với số tiền chi phí điều trị bệnh và tiền điện thoại, xét thấy việc rút kháng cáo của anh N là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần rút kháng cáo này.
Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn N phải chịu án phí đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản không được chấp nhận là 300.000 đồng; tuy nhiên do anh có đơn xin giảm án phí do điều kiện kinh tế khó khăn nên cấp sơ thẩm chấp nhận giảm cho anh N ½ án phí là phù hợp. Buộc anh N phải chịu án phí sơ thẩm là 150.000 đồng.
Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn N phải chịu án phí yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản không được chấp nhận với số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
́
QUYÊT ĐI ̣NH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, các Điều 26, 35, 39, 147, điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 1 Điều 218, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 468, Điều 584, 585, 586, 589, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2016 của HĐTPTANDTC; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn N, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2019/DS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn N. Buộc anh Nguyễn Văn B có nghĩa vụ bồi thường cho anh N số tiền 5.200.000 đồng (năm triệu hai trăm nghìn đồng).
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn N về việc đòi anh Nguyễn Văn B bồi thường tiền sửa điện thoại với số tiền 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng).
3. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn N về việc đòi anh Nguyễn Văn B bồi thường giá trị điện thoại với số tiền 3.300.000 đồng (ba triệu ba trăm nghìn đồng).
4. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của anh Nguyễn Văn N về việc yêu cầu anh Nguyễn Văn B bồi thường tiền chi phí điều trị bệnh số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) và tiền điện thoại là 3.300.000 đồng (ba triệu ba trăm nghìn đồng).
5. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn N phải chịu 150.000 đồng. Anh Nguyễn Văn B phải chịu 300.000 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Án phí dân sự phúc thẩm: Anh N phải chịu 300.000 đồng, anh N đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004463 ngày 26 tháng 11 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P được chuyển thu án phí phúc thẩm.
6. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử phúc thẩm công khai có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TPHCM (1b) - VKSND tỉnh BL (1b) - TAND huyện PL (1b) - Chi cục THADS huyện PL (1b) - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | (Đã ký) Trương Thanh Dũng |