- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Hình sự tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Nguyễn Cảnh H 15 (mười lăm) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/12/2018 đến ngày 22/01/2019.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊNTHÀNH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2019/HSST Ngày 25-02-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Sỹ Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Tường,
Bà Phan Thị Quế.
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Quang Sáng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hiền - Chức vụ kiểm sát viên.
Vào ngày 25 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2019/HSST, ngày 23 tháng 01 năm 2019, đối với bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Cảnh H (tên gọi khác: không) - Sinh ngày 02 tháng 4 năm 1971, tại xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Xóm B, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: làm ruộng, dân tộc: kinh, tôn giáo: không, trình độ văn hoá: lớp 7/10, con ông: Nguyễn Cảnh P (chết) và bà Phạm Thị C (chết). Anh chị em ruột có 7 người, bị cáo con thứ năm trong gia đình.Vợ: Ngô Thị S – sinh năm 1971, con: có hai con: lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1996. Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Tại bản án số 82 ngày 25/7/1991 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh xử phạt 30 tháng tù về tội Phá hủy công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia. Đã chấp hành xong bản án.
- Ngày 06/10/1997, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An có quyết định số 4094/QĐ-UB đưa người vào cơ sở giáo dục trong thời gian 24 tháng vì trong khoảng thời gian từ tháng 8/1994 đến tháng 6/1997 thực hiện nhiều hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong quyết định nêu trên.
- Ngày 01/01/1999 phạm tội đánh bạc bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Đã chấp hành xong bản án.
- Tại bản án số 52/HSST ngày 29/7/2003 bị Tòa án nhân dân huyện D xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng về tội đánh bạc. Đã chấp hành xong bản án.
- Tại bản án số 146/HSST ngày 20/01/2006, Tòa án nhân dân huyện D xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng về tội đánh bạc. Đã chấp hành xong bản án.
- Tại bản án số10/HSST ngày 29/11/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Y xử 12 tháng tù về tội đánh bạc, tổng hợp hình phạt 9 tháng tù của bản án 146/HSST, ngày 20/01/2006 của Tòa án nhân dân huyện D, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 21 tháng tù. Đã chấp hành xong bản án.
- Tại bản án số 01/HSST ngày 05/10/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Y xử phạt 15 triệu đồng về tội tổ chức đánh bạc. Đã chấp hành xong bản án.
- Tại bản án số 95/HSPT ngày 26/8/2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm bản án số 32/HSST, ngày 25/5/2010 của TAND huyện Y, tỉnh Nghệ An, xử phạt bị cáo 04 tháng tù về tội đánh bạc. Đã chấp hành xong bản án.
- Tại bản án số 34/ST ngày 24/3/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phúc thẩm đối với bản án số 43/2013/HSST ngày 28/10/2013 của Tòa án nhân dân huyện Y với mức hình phạt 15 tháng tù về tội đánh bạc. Đã chấp hành xong hình phạt ngày 29/10/2015 và đã chấp hành xong án phí.
Danh bản - Chỉ bản số: 034, Công an huyện Yên Thành lập ngày 04/12/2018.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/12/2018, sau đó ngày 06/12/2018 bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Nghệ An, đến ngày 22/01/2019 được Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành hủy bỏ biện pháp tạm giam, thay thế bằng quyết định cho bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại. (Bị cáo có mặt).
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Xuân N – sinh năm 1966.
Trú tại: Xóm 3, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 03 tháng 12 năm 2018, Nguyễn Cảnh H (sinh năm 1971 trú tại xóm B, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An) một mình đi từ nhà lên ngã tư xã C, huyện Y rồi đón xe Bus lên huyện Đ chơi. Khi đi đến khu vực bến xe cũ tại thị trấn Đ, huyện Đ bị cáo xuống xe. Tại đây, Nguyễn Cảnh H gặp một người đàn ông không quen biết (Bị cáo không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể người này). Người đàn ông đó hỏi bị cáo là “đi mô?” thì H trả lời là “đi chơi”. Người đàn ông đó hỏi tiếp là “có lấy hàng không?”. Do hiểu người đàn ông này hỏi mình là có ma túy không thì Nguyễn Cảnh H trả lời là “có”. Sau đó, H đưa cho người đàn ông này 300.000 đồng và nói “lấy cho em 300.000 đồng ma túy đá”. Người đàn ông lạ mặt cầm tiền rồi đi khoảng 20 phút sau đó quay lại đưa cho H 01 gói Potylen màu xanh, H mở gói Potylen này ra xem thì thấy bên trong có 01 gói Potylen nhỏ màu tím đựng các hạt tinh thể màu trắng là ma túy đá 01 gói nhỏ bằng mẩu giấy bạc đựng 02 viên nén hình tròn màu đỏ là hồng phiến. Nguyễn Cảnh H cầm gói ma túy trên bỏ vào trong người rồi đón xe khách đi về nhà.
Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm, Nguyễn Cảnh H điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu SMASH, biển kiểm soát 37N1-8383 của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1970 trú tại xóm N, xã T, huyện Y (lúc mượn xe H nói với chị H là mượn xe đi xuống thị trấn gặp bạn) đi đến khu vực nhà nghỉ DP thuộc xóm M, xã B để tìm chỗ sử dụng ma túy. Nguyễn Cảnh H chưa kịp sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện Yên Thành phát hiện bắt quả tang. Cơ quan công an đã thu trong lòng bàn tay phải của Nguyễn Cảnh H 01 gói Potylen màu xanh, gói bên trong một gói potylen màu tím đựng các hạt tinh thể màu trắng (nghi là ma túy đá) có khối lượng là 0,265 gam; 01 gói nhỏ được gói bằng giấy bạc, bên trong chứa 02 viên nén hình tròn màu đỏ (nghi là ma túy tổng hợp) có khối lượng 0,21 gam, tổng khối lượng cả hai loại là: 0,475 gam.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành, Nguyễn Cảnh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên của mình, số hạt hạt tinh thể màu trắng và 02 viên nén hình tròn màu đỏ mà công an thu giữ của H là ma túy do Nguyễn Cảnh H đi mua về để sử dụng.
Ngày 14 tháng 12 năm 2018, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành đã Quyết định trưng cầu giám định về loại ma túy và khối lượng ma túy đã thu giữ của Nguyễn Cảnh H.
Tại kết luận giám định số 84/KL-PC09(MT) ngày 04 tháng 12 năm 2018 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
- Mẫu hạt tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) thu giữ của Nguyễn Cảnh H gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). Số các hạt tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Cảnh H có khối lượng 0,265 gam.
- Mẫu viên nén hình tròn màu đỏ ký hiệu (M2) thu giữ của Nguyên Cảnh H gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine). Số các viên nén hình tròn màu đỏ thu giữ của Nguyễn Cảnh H có khối lượng 0,21 gam (không phẩy hai mươi mốt gam).
Tổng khối lượng ma túy (Methamphetamine) thu của bị cáo là 0,475 gam. Sau khi lấy 0,1 gam trong mẫu (ký hiệu M1) 0,265 gam Methamphetamine để giám định còn lại là 0,165 gam; 02 viên Methamphetamine mẫu (kí hiệu M2) có khối lượng 0,21 đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt đối với Nguyễn Cảnh H từ 12 đến 15 tháng tù. Do bị cáo là người mắc nghiện, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo. Về vật chứng, Kiểm sát viên đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định. Về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí toà án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ buộc tội: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa công khai, bị cáo Nguyễn Cảnh H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Trên cơ sở lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người làm chứng, biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu giữ được và kết luận giám định là hoàn toàn phù hợp với nhau. Cơ quan điều tra, điều tra viên, kiểm sát viên đã tiến hành tố tụng điều tra như lập biên bản bắt người phạm tội quả tang; ra các quyết định; lấy lời khai, hỏi cung bị can; trưng cầu giám định, kết luận giám định theo đúng các quy định của pháp luật. Xét thấy đã có đủ căn cứ kết luận Nguyễn Cảnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành đã truy tố.
Nguyễn Cảnh H đã tàng trữ trái phép chất ma túy là Methamphetamine có khối lượng 0,475 gam (không phẩy, bốn trăm bảy mươi lăm gam), chính vì vậy,Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng mức.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người mắc nghiện ma túy nên đã mua, tàng trữ để phục vụ cho nhu cầu mắc nghiện của mình. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là hành vi bị nhà nước nghiêm cấm. Khối lượng Methamphetamine mà bị cáo tàng trữ 0,475 gam là định lượng phải chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo là người có nhân thân xấu nhiều lần bị xử lý về hình sự, vì vậy phải xét xử nghiêm, nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, bố mẹ bị cáo được tặng thưởng huy chương vì có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; Bản thân bị cáo được UBND xã N tặng giấy khen vì đã có thành tích cứu người đuối nước, cần coi đây là những tình tiết giảm nhẹ như quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo như đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa.
Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người mắc nghiện ma túy, nên không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Về người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Cảnh H, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có kết quả, vì vậy chưa có cơ sở để xử lý với người đã bán ma túy cho bị cáo.
Vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Cảnh H số mẫu hạt tinh thể màu trắng có khối lượng 0,265 (không phẩy, hai trăm sáu mươi lăm) gam và hai viên nén hình tròn, màu đỏ khối lượng: 0,21 (không phẩy hai mươi mốt) gam đều được xác định là ma túy (Methamphetamine). Sau khi lấy mẫu giám định còn lại: 0,165 (không phẩy, một trăm sáu mươi lăm) gam. Số vật chứng còn lại đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành quản lý. Xét vật chứng là Methamphetamine thu giữ của bị cáo là loại nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu SMASH, biển kiểm soát 37N1-8383 mà H mượn của chị Nguyễn Thị H để đi tìm chỗ sử dụng ma túy, chị H không biết H mượn xe để làm gì nên cơ quan điều tra đã trả lại xe máy cho chị H là đúng quy định.
Án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
1. Xử phạt Nguyễn Cảnh H 15 (mười lăm) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/12/2018 đến ngày 22/01/2019.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 0,165 (không phẩy, một trăm sáu mươi lăm) gam Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Cảnh H, vật chứng đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự huyện Yên Thành quản lý.
3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Cảnh H phải nộp: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo lên toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
ơ
| Nơi nhận: - VKSND H. Yên Thành; - THADS Yên Thành; - THA hình sự; - Bị cáo; - TAND tỉnh Nghệ An; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Ngô Sỹ Tiến |